728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Ngày ấy tuổi đôi mươi - Chương IX, Chương X

CHƯƠNG IX

Mấy ngày sau tình hình mỗi lúc mỗi gay cấn hơn. Tiếng bom đạn, tiếng cannon ùng oàng dội đến, những tràng tiểu liên vu vơ của mấy tay lính thất thiểu trên đường di tản càng tạo tâm lý hoảng loạn cho mọi người. Mẹ tôi kêu con cái ngồi lại, bắt bố tôi phải quyết định chuyện gia đình ngay. Sau một hồi bàn qua tính lại, ba mẹ tôi đưa ra một mệnh lệnh: tôi là con trai trưởng, trước mắt phải chạy vào hướng nam để tránh tên rơi đạn lạc cũng như để phân tán lực luợng gia đình, còn bố mẹ và em gái tôi sẽ ở lại Huế. Trong không khí ấy, tôi phân vân, không có một quyết định rõ ràng cho mình nên chẳng có phản ứng gì. Chạy đi hay ở lại, họa hay phước, mọi
thứ còn mông lung mờ mịt lắm. Nhưng mẹ tôi thì sụt sùi nước mắt, lo lắng cho thằng con trai khờ khạo của mình nên cuối cùng, tôi giã từ gia đình, ra bến xe An Cựu ở phía nam thành phố Huế. Nơi đây, những luồng xe cộ đủ loại từ xe lam, xe gắn máy, xe ba gác, tất cả ùn ùn chạy vào trong với đủ loại con người trên đó.

Dường như trong cơn hốt hoảng này, mọi người cảm thông với nhau nhiều hơn. Trên một chiếc xe tải đang dừng lại đổ xăng, trong thùng xe lố nhố người và đồ đạc, trên trần xe có dăm bảy người ngồi, tôi đến bên cạnh hỏi xin quá bước, thì ra những người ngồi trên ấy cũng là những kẻ đi nhờ. Có người bảo thích thì cứ nhảy lên đi. Tôi không có lựa chọn gì nữa liền nhảy đại leo lên trần xe.

Chiếc xe rồ máy, nhập vào đoàn dài ô hợp, bất tận ấy, nối đuôi nhau tiến vào phía nam. Tôi bắt đầu cảm thấy cô đơn, nhưng cũng cảm khái về trạng thái không biết mình sẽ đi đâu, về đâu. Trên trần xe có khoảng nửa tá con người xa lạ, mỗi người một vài chiếc túi hoặc để kê đầu nằm nghỉ hoặc chống tay. Không ai lo sợ hay nghĩ đến tai nạn xe cộ, nguy hiểm trong tình huống ngất ngưỡng như thế. Tiếng động cơ xe, máy không át được tiếng đại bác, tiếng súng tiểu liên thỉnh thoảng vang lên.

Xe nhiều, đường chật nên đêm xuống chúng tôi mới đến được chân đèo Hải Vân. Nằm ngửa trên trần xe, nhìn trời, nhìn trăng sao, tôi ngẫm nghĩ về thân phận con người. Những trang sách trong cuốn “Nói với tuổi hai mươi” của Nhất Hạnh, một trong những cuốn được thanh niên thời đó tìm đọc, nói về lý tưởng, tình yêu, xã hội, gia đình,… chợt đến trong tôi nhưng với bối cảnh này chẳng giúp tôi được điều gì. Đây chẳng phải là một cuộc ra đi, dấn thân vì một nghĩa vụ cao cả gì hết, chỉ là một cuộc chạy tán loạn, mong tìm một chốn an lành. Đoàn xe vẫn rồng rắn bất tận trong đêm, những ánh đèn pha sáng trắng hay đỏ quạch, nhích từng đoạn từng đoạn qua đèo Hải Vân khúc khuỷu cao nghệu. Nếu lúc ấy trên đường đèo xảy ra đánh nhau hay gặp phục kích, mìn pháo thì không biết chuyện gì xảy ra.

Rồi tôi cũng đến được Đà Nẵng. Thành phố này không khá hơn, bắt đầu nhốn nháo và hỗn loạn. Bao nhiêu người từ Huế, Quảng Trị chạy vào, Quảng Nam, Quảng Ngãi chạy ra. Người ta cứ chạy, miễn sao đến được chỗ nào đông người để có được trạng thái tâm lý yên ổn. Tôi lang thang, một chiếc túi xách trên vai, tiện chỗ ghé vào Trường đại học Cộng đồng Quảng Đà. Nơi đây đã thành chỗ trú ngụ cho dân “chạy giặc” tứ xứ kéo về. Các phòng học, phòng làm việc nay là chỗ ở, thư viện của trường biến thành kho chất đốt. Rảo quanh mấy phòng chứa sách, tôi thấy người ta mang bao nhiêu là tài liệu, sách quý về để làm củi nấu ăn. Xót quá, tôi chọn lấy một số sách chuyên môn, một số sách truyện văn học như bộ Chiến tranh và Hòa bình của Léon Tolstoi hay Hiệp sĩ Don Quichotte,… và một số sách tự điển khác. Tuy nhiên vì nặng tôi không lấy được nhiều, đành mở mắt nhìn những cuốn sách trước đây mình từng ước ao nhưng không có tiền mua lần lượt biến thành tro bụi.

Tôi bây giờ trở thành một người tự do. Có thể ghé vào bất cứ quán ăn bình dân nào để dằn cơn đói, có thể ghé vào một trường học hoặc ngôi chùa để tá túc qua đêm vì hầu như nơi nào cũng có đông người ở đợ.

Với sức trẻ và một đêm ngủ vùi ở Trường đại học Quảng Đà ấy, tôi cảm thấy khỏe khoắn, dễ chịu sau khi chịu khó săp hàng để tắm táp ở vòi nước trong phòng vệ sinh. Bước ra đường, phố xá ngập những con người xuôi ngược với thần sắc hốt hoảng, lo âu, kẻ thì vội vã, người thì lần khần, tôi tìm đến địa chỉ em đã ghi lại hôm ấy. Tìm không khó khăn lắm, con đường Hoàng Diệu ấy đã hiện ra trước mắt tôi. Lòng tôi tưởng như đã thờ ơ vì những diễn biến trong mấy ngày qua, nay bắt đầu nôn nao khi hình dung lát nữa mình lại gặp được em. Tôi cố nén để giữ bước đi thong thả. Số nhà ấy đây rồi nhưng sao cánh cửa sắt lạnh lùng đóng kín. Tôi gõ cửa và gọi với vào nhà nhiều lần nhưng chẳng có tiếng trả lời. Tôi băn khoăn, đứng chần chừ một lúc thì có tiếng nói giọng Quảng vang lên:

- Cháu tìm ai đó.

Quay ra thì một bà cụ khoảng lục tuần, người nhỏ nhắn và mặt mày phúc hậu, có lẽ là người ở gần đây, nhìn tôi như muốn giúp đỡ. Tôi trả lời:

- Dạ, cháu tìm người quen ở trong nhà này.

- Bác thấy họ chuyển đồ đạc đi hôm qua cả rồi. Nghe loáng thoáng hình như họ qua bên Sơn Chà để đi tàu thủy vô nam. Bây giờ nhà cửa người ta khóa kín lại rồi.

Tôi bỗng thấy hụt hẫng.Có lẽ mình vô duyên nợ nên con tạo trêu ngươi. Tần ngần một chút, tôi hỏi:

- Bác thấy có cô gái khoảng 18 tuổi, nói giọng Huế đến ở nhà này khoảng ba bốn ngày trước không?

- À, có, có. Hình như có một gia đình bà con ngoài Huế vào và cùng đi với nhà này hôm qua ấy.

Như thế là đúng rồi. Tôi cám ơn bà cụ và lê bước lang thang trên đường, lòng buồn khôn xiết. Tôi và em như chơi trò trốn tìm. Nay em ở nơi đâu Trang ơi.

Những ngày cuối tháng ba ấy, khí trời còn mát mẻ nhưng thành phố Đà Nẵng thì nóng hầm hập. Trên đường ra sân bay, qua bến cảng, dòng người và xe cộ chen chúc ngộp thở. Tôi tạo cho mình đôi chút bình thản, ngắm thiên hạ trong cõi hỗn mang. Ăn sáng qua loa xong, tôi ghé qua Đài phát thanh Đà Nẵng, gửi nhắn tin cho gia đình báo rằng tôi đã vào Đà Nẵng một cách bình an. Có thể mẹ tôi sẽ nghe được vì giờ phát thanh nhắn tin của đài bà đã nhớ kỹ và dặn tôi khi vào thì đứng quên báo cho nhà biết. Còn tôi không biết tình hình ở Huế giờ này ra sao. Qua những thông tin truyền miệng của những người chạy vào sau cùng cho biết đường bộ bị cắt đứt ở Lăng Cô, lính Sài gòn đã giựt sập nhiều cầu cống phía nam khi rút chạy, riêng đường thủy ở Tân Mỹ-Thuận An, dân và lính tranh nhau xuống tàu, bắn nhau nhiều người chết lắm. Tôi phần nào lo lắng, không rõ mẹ tôi trong cơn hoảng loạn có chạy về cửa biển Thuận An không nhưng sau khi nghĩ kỹ lại, lòng cũng yên tâm vì tính quyết đoán của ba tôi, ông có lập trường vững chắc, ít bị tác động của ngoại cảnh nên chắc có cách xử lý thích hợp với hoàn cảnh. Tất nhiên tôi không quên gửi đôi lời thương nhớ cho Trang qua làn sóng điện với niềm hy vọng mong manh là em có thể nghe được.

“Huế thất thủ rồi. Tướng Trưởng đã bỏ của chạy lấy người. Bộ đội Bắc Việt đang lập thế gọng kìm tiến vào Đà Nẵng từ phía bắc đèo Hải Vân và phía tây nam Quảng Đà.” Nguồn tin từ đài BBC lan nhanh hơn gió thổi, những người di tản bên trong mấy khu ở tạm, những người đang sống trong phố phường càng nháo nhác hoảng loạn .

Sáng hôm sau tôi đi chợ Hàn để mua ít đồ ăn. Hôm qua, hôm kia còn khá đông, nay giờ còn lác đác đôi người trên đường đến chợ. Các sạp hàng, tủ sắt khóa kín, các tấm ván để trưng hàng hóa vất ngỗn ngang. Vào hàng bán đồ khô, tôi ngửi thấy mùi hương khói và bước thêm vài bước, một cảnh kinh hoàng đập vào mắt. Hai xác người lính đổ gục trên lối đi, máu loang trên chiếc áo và bắt đầu đông lại, ai đó thắp vội bó hương cháy dở. Tôi quay trở lại, đang tìm lối ra thì nghe tiếng la hét, tiếng súng nổ ran, đạn bay veo veo trên đầu. Khiếp hãi, tôi nép vào bờ tường và chạy vội ra ngoài đường. Có vài người cũng hốt hoảng chạy ra như tôi. Định thần một lúc, họ bảo ban sáng một số lính thủy quân lục chiến vào chợ để cướp bóc thì gặp lính bộ binh có lẽ cũng đi kiếm chác. Hai bên bắn nhau, chết mấy người, số còn lại bỏ chạy bây giờ chắc quay trở lại hay sao đó. Thấy tình hình dễ tiêu mạng như chơi nên các chủ hiệu đành mất hàng chứ không dám đến cất giữ. Tôi nghe vậy thôi thì lẹ lẹ đi nhanh về ngôi trường Thánh Tâm gần đó, nơi có đông người đang tạm cư.

Mấy tiếng đồng hồ sau, tôi lên tầng ba của ngôi trường và nhìn xuống khu vực lân cận. Trên đường, từng tốp lính đủ sắc phục bỏ ngũ chạy về thành phố, có lẽ chỉ huy của họ đã trốn chạy trước để tìm chốn an thân. Một số trong tâm trạng bị lừa đảo, một số tuyệt vọng nên vác súng bắn chỉ thiên bừa bãi, số khác thì vào các cửa tiệm ăn cướp hàng hóa, vàng bạc. Thương cho dân thường có người bị đạn lạc chết, cho nên chẳng mấy chốc nhà nào nhà nấy đóng cửa sắt kín mít, bên trong còn chất bàn ghế, gầm tủ để bảo vệ. Phố xá giờ đã vắng người đi lại, không còn đông nghẹt như những ngày qua. Những bộ áo quần trellis, những chiếc mũ sắt, những băng đạn M16 vất vương vãi dọc đường. Đám tàn quân không còn chỉ huy, sắc lính này bắn giết sắc lính kia, không ai cai quản, tạo nên một thảm kịch, đây là một xã hội hoàn toàn vô chính phủ.

Tuy vậy, những người từ nơi khác chạy đến đây không còn quá lo sợ vì một phần họ đã chai lỳ với những điều đã trải qua, một phần chẳng còn gì có giá trị để sợ mất mát, ngoài ra họ tụ tập với nhau đông đảo nên trong cái không khí tập thể ấy làm họ yên tâm hơn. Tôi ngồi trong một góc phòng, không buồn chuyện trò với những người bên cạnh.

Cả ngày hôm ấy không khí ngột ngạt, nặng nề. Xa xa tiếng pháo đì đùng, thỉnh thoảng những tràng tiểu liên vang lên như tiếng gọi tử thần, một trạng thái bất an, đầy lo âu. Không ai biết được điều chi sẽ đến cho mình. Cái sống và cái chết không có ranh giới rõ ràng. Trong tâm trạng ấy, nhiều người quay sang cầu mong quân giải phóng vào gấp để ổn định tình hình chứ như thế này thì riêng nỗi lo sợ cũng khiến người ta thất thần mà chết. Chưa bao giờ người dân Đà Nẵng và cả dân chạy loạn tứ xứ đến đây mong mỏi bộ đội sớm vào thành phố như bây giờ.

Sáng 29/3. Một khoảnh khắc thời gian im ắng khác thường. Không có một tiếng súng nhỏ vang lên. Người ta có thể nghe được tiếng gà gáy, tiếng chim hót mà ngày thường bị lẫn trong bao nhiêu tạp âm ong óng trong đầu. Chừng 10 giờ sáng, không khí xao động, nhiều tiếng nói xôn xao, hóa ra bộ đội đã vào thành phố.

CHƯƠNG X

Đà Nẵng được giải phóng. Trật tự của thành phố tái thiết lập. Trên các đường phố, áo quần, giày mũ của lính Sài Gòn vất lung tung. Không còn hiện diện những chiếc áo rằn ri hay những chiếc nón sắt để có thể gây nỗi kinh hoàng. Người dân vừa trải qua một thời điểm hết sức căng thẳng của giai đoạn vô chính phủ ấy nên bây giờ có thể thở phào. Họ đổ ra đường, tò mò đến gặp và làm quen với các chú bộ đội. Phần lớn những câu chuyện mang tính chất thăm dò, dè dặt xem thử thái độ của những chiến sĩ giải phóng quân này ra sao, những người mà chỉ hôm trước thôi còn được gọi là Việt Cộng. Tôi cũng lang thang ra dọc bờ sông Hàn, xem những chiến hào đơn sơ, những khẩu súng AK47, B40, 41 cũng như những khẩu mortier 82, “đại bác” cơ động trên chiến trường và tán chuyện với những anh bộ đội trạc tuổi mình mà không cảm thấy e ngại gì. Các anh rất vui với cuộc hành quân tốc chiến và với sự quan tâm của người dân thành phố. Nói chung, tôi không bày tỏ quan điểm gì của mình, chỉ chú ý lắng nghe nhiều hơn.

Vài ngày sau, nhiều gia đình lục tục ngược về Huế trên những chuyến xe thuê bao. Không ai cần phải nghĩ mình khôn hay dại khi bỏ Huế chạy vào đây rồi bây giờ trở lại. Có thể nhiều người khá tốn kém cho cuộc di tản này, chưa kể ở nhà đôi lúc còn bị mất trộm nữa. Tôi cũng nối bước như mọi người quay ra Huế, lòng cầu mong gia đình được bình an.

Trên đường trở về, xe cộ chạy một cách khó khăn do nhiều chiếc cầu bị giựt mìn sập đổ. Vài thôn xóm ven quốc lộ trông xơ xác, hoang tàn do những trận bom, trận pháo của hai bên dội xuống. Đâu đấy trên triền đèo còn vài xác chết nằm vắt vẻo chưa ai kịp chôn cất. Tôi bước vào cổng nhà vào lúc nhá nhem tối. Mẹ tôi đang lâm râm cầu nguyện thì chợt thấy tôi về. Mẹ giật mình, mừng vui, xúc động nghẹn ngào. Cả nhà lại đoàn tụ bình an.

Chúng tôi bắt đầu làm quen với cuộc sống mới. Phố xá bây giờ đổi màu cờ, khẩu hiệu. Người dân không còn phải lo lắng, e sợ như lúc nghe tin đồn trước đây nhưng trong khi chuyện trò ai nấy cũng thận trọng, dè dặt. Mọi người đang thăm dò với chính quyền quân quản cách mạng. Việc bộ đội chiến thắng, chiếm lấy Sài Gòn không ai còn nghi ngờ gì nữa, vấn đề là thời gian mà thôi. Người dự đoán vài ba tháng, người cho rằng phải nửa năm.

Mấy ngày sau tôi trở lại trường cũ. Những bạn bè lần lượt đến trường tập trung theo từng nhóm làm công tác xã hội, văn nghệ hay báo chí tuyên truyền dưới sự chỉ huy của các sinh viên cơ sở cách mạng hoạt động ngầm trước đây. Các anh mang súng ngắn hoặc AK báng gấp, túi áo đính huy hiệu đoàn Thanh niên cách mạng Hồ Chí Minh. Tôi tham gia vào đội công tác xã hội, trước mắt là dọn dẹp các phòng học, hành lang, thư viện cho gọn gàng sạch sẽ. Cuối mỗi buổi, những đội viên ngồi lại và tập những bài hát cách mạng. Thực tình, lúc đó các bạn sinh viên chưa biết giác ngộ cách mạng xã hội chủ nghĩa là gì, chỉ biết những anh bộ đội miền bắc cũng con Hồng, cháu Lạc, họ đang làm nhiệm vụ thống nhất đất nước Việt Nam và chúng tôi mừng vui chờ đón điều ấy xảy ra nên dốc sức hoàn thành những công việc được giao.

Bối cảnh xã hội thay đổi nhanh chóng khiến cho những suy nghĩ, tình cảm riêng tư cũng biến đổi theo. Những hoạt động tập thể ở trường, các công tác địa phương như cuốn hút, đầu óc của tôi không còn chỗ cho những nhớ nhung thường trực về Trang nữa. Tuy vậy, như là phản xạ, mỗi buổi chiều trên lối về, con ngựa sắt cứ dẫn tôi băng qua con đường, nơi có ngôi nhà em ở để hy vọng một điều gì mới mẻ không. Và như bao lần, khung cảnh chẳng có gì thay đổi, vẫn cửa đóng then cài. Không biết giờ này em ở đâu, tôi vẫn thầm cầu mong cho em và gia đình được bình an. Xung quanh phố tôi ở, lần lượt các gia đình quay về, có người mất mát tài sản, có người mất mát thân nhân trong lúc chạy loạn ấy.

Hằng ngày tôi chịu khó nghe radio để xem bước tiến quân giải phóng đến ngang đâu rồi. Bây giờ ngoài nỗi mong ước được thống nhất đất nước, xương máu đồng bào bớt tốn hao trong cuộc chiến sắp đến hồi kết thúc, tôi còn hy vọng lúc đó em sẽ trở lại Huế bình an.

Ngày thống nhất tổ quốc, trong niềm vui lớn lao chung của mọi người dân Việt khi giang sơn thu về một mối, tôi còn sự hồi hộp, mong chờ gặp lại người thương. Hy vọng sẽ gặp lại Trang trong một ngày đẹp trời nào đó, nhưng nào thấy đâu! Bóng chim, tăm cá biết nơi nao mà tìm.

Một lần tập trung học sinh, sinh viên ở sân vận động Tự do để mít tinh mừng chiến thắng, tôi tình cờ gặp lại Thủy Tiên. Tôi vội vã hỏi thăm tin tức về Trang thì Thủy Tiên chẳng biết gì hơn. Gặp lại các bạn của Trang, tôi không nuốt được niềm nhớ nhung về em; dù giả bộ bình thản nhưng trong lời nói, tôi khó che dấu được điều ấy. Thủy Tiên cũng chia sẻ và an ủi tôi, giúp tôi nguôi ngoai nỗi buồn, rằng Trang có thể đang ở bình an ở Sài Gòn và sẽ trở về Huế nay mai. Nhưng rồi, khi chia tay với mấy người bạn tốt ấy, lúc thong thả trên đường về, gió cuốn những ngọn là vàng bay lên, những mảnh kỷ niệm của buổi chiều đạp xe song song bên nhau, mái tóc thề bay bay theo gió; những ký ức ấy chợt hiện về khiến tôi quay quắt trong nỗi nhớ nhung, không tả được nên lời, chỉ xa cách mấy tháng nhưng cảm giác vò võ như đã lâu lắm rồi.

Các trường học bắt đầu mở cửa trở lại, những buổi lao động, sinh hoạt tập thể nhiều hơn, liên tiếp những buổi mitting kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, mừng ngày thống nhất đất nước khiến bầu không khí càng rộn ràng, sôi động nhưng bóng hình người tôi yêu dấu vẫn biền biệt ngút xa.

Tháng bảy nước nhảy lên bờ. Những cơn mưa nặng hạt năm này đến khá sớm và trận lụt đầu mùa kéo đất phù sa ngập phố phường. Đội công tác xã hội của sinh viên, học sinh hòa chung với thanh niên phường đi dọn dẹp. Những tháng ngày xưa tôi chưa từng phải làm việc nặng, chỉ biết học, gảy đàn, phụ giúp bố mẹ những công việc lặt vặt ở nhà, bây giờ cũng xúc đất, đẩy xe ba gác, quét dọn. Ban đầu chưa quen, bàn tay rộp phỏng và nhiều lúc tôi cảm tưởng như ngộp thở nhưng nhìn quanh, mọi người cùng cố gắng và bầu không khí tập thể ấy cùng với sức trẻ, mọi thứ rồi cũng quen dần.

Niềm mong chờ của tôi ngày càng tàn lụi. Rồi sau đó dăm ba ngày tôi mới tạt qua nhà em một bận. Lần cuối, tôi thật sự bị hụt hẫng khi ngôi nhà quen thuộc ấy có người ở nhưng không phải gia đình em. Hỏi ra mới biết chủ nhà đã cho người mới thuê sau một thời gian không thấy người thuê cũ trở về. Chủ nhân mới của ngôi nhà bắt đầu dọn dẹp, tỉa mỏng dàn hoa giấy, thay lại rèm cửa còn chiếc xích đu đầu hiên nhà đầy ắp kỷ niệm thì không biết dẹp vào đâu. Tôi chỉ chuyện trò một chút rồi đi vì những người mới đến không có liên quan bất cứ điều gì với chủ cũ và họ cũng không mặn mòi lắm về câu chuyện của tôi. Trong thùng rác để tạm trước sân, tôi thoáng thấy một số tập vở của Minh; có lẽ những những cuốn sách tôi mua cho Trang trước đây cũng chung số phận. Tôi không dám nghĩ tiếp nữa và vội vã quay gót bước đi.

Con đường đến nhà em bây giờ chỉ còn là dĩ vãng. Đôi lúc chợt thấy mình lạc bước, tôi đạp xe lướt nhanh qua cổng, không dám nhìn vào khung cửa hoài niệm của một quãng thời gian nhiều cảm xúc, bỡ ngỡ và xao động còn nay thì lạnh lùng, vô cảm.

Công việc và cuộc sống mới biến đổi nhanh chóng cũng làm tâm trạng sinh viên thay đổi theo. Ở trường bây giờ là những ngày tháng sôi động, nào là học chính trị, những cuộc meeting tập trung vào lúc tờ mờ sáng, tiếp những đợt trồng cây, làm thủy lợi hay dạy bổ túc văn hóa cho các xóm nghèo. Tôi như con thoi, là tổ trưởng lao động, vừa mới dự họp để phân công, nào ai mang cuốc, xẻng, ai mang xô chậu rồi tất bật quay sang cắt dán khẩu hiệu, pa nô. Các bạn nam và nữ cùng trang lứa dù lạ hay quen, giờ đây hòa đồng với nhau dễ dàng hơn, ít e dè, ngượng nghịu như trước. Các cô, các chị bớt thói đài các trong cách ăn mặc, trang điểm; ai cũng muốn tỏ ra bình dị, đơn giản nhưng bàn tay mềm mại kia vẫn chưa quen cầm cái xẻng, cái chậu, cái xô. Tôi hiểu điều đó nên khi phân công thường dành cho chị em công việc nhẹ nhàng và sẵn sàng làm giúp cho họ những việc nặng hơn. Lớp toán chúng tôi toàn là nam nên được ghép với các lớp văn, ngoại ngữ rồi chia ra thành những tổ nhỏ để nam nữ hỗ trợ lẫn nhau trong công việc. Các cô, các chị tha hồ nói khéo để các anh giúp đỡ và các anh có cơ hội tiếp cận người đẹp dễ dàng chứ không phải lúng túng tìm cách làm quen với bạn gái như trước nữa. Việc gặp gỡ nhau thường xuyên như vậy đã nẩy sinh nhiều cuộc tình khá thi vị, trong số đó cũng có những cặp nên đôi nên duyên sau này. Với tôi, cũng được gặp gỡ với nhiều người dễ thương và chúng tôi chuyện trò xem ra cũng ăn ý lắm nhưng lòng tôi lúc ấy không hề dấy lên một cảm xúc nào khác, thêm nữa bộ mặt thản nhiên và cứ công việc, công việc nên chẳng có ai để ý đến mình. Có phải dư vị mối tình đầu với nhiều trắc trở vẫn còn thấm đậm trong ký ức và trái tim của thời tuổi trẻ như thế chăng?

Qua những ngày tháng lao động, sinh hoạt ai nấy đều thấy mình trưởng thành lên, gắn bó với cộng đồng, không còn đóng khung trong tháp ngà của cái tôi. Chúng tôi hát nhiều về tuổi thanh niên, về tổ quốc, về quê hương yêu dấu. Những giai điệu hùng tráng, thôi thúc trong con người mạnh mẽ tiến bước trong đấu tranh, trong lao động. Những đêm thanh bình, yên tĩnh, trăng sáng vằng vặc giữa trời khuya, chúng tôi đi về vô tư, không còn lo lắng như hồi còn chiến tranh. Đó là quãng thời gian để lại nhiều ấn tượng tươi đẹp một thời của tuổi đôi mươi khi tiếng súng thôi vang, còn lại tiếng gà gáy điểm canh và chim hót ban sớm. Tuy vậy, có đôi buổi xế chiều, bầu trời tháng bảy trong vắt và nắng vàng trải xuống các lùm cây, tôi ngồi lặng lẽ trước hiên nhà, lòng thấy trống trải. Những biến đổi nhanh chóng của xã hội và thời cuộc khiến những cảm nhận của sự việc xảy ra mới ngày hôm qua những tưởng dài lâu hàng mấy năm. Trong giây phút tĩnh lặng ấy, tôi thèm nghe một giọng hát của Khánh Ly hay Kim Tước nhưng rất tiếc mấy băng nhạc tôi yêu thích không còn nữa. Một lần, lúc tôi đi vắng, tổ thanh niên xung kích dân phố đến các nhà vận động nộp văn hóa phẩm đồi trụy, phản động, mẹ tôi e ngại nên đem nộp một số sách vở, băng nhạc, trong đó có những bài hát mà tôi vô cùng yêu thích như là "Hạ Trắng", "Chiều một mình qua phố", "Còn tuổi nào cho em",… mà chúng gắn nhiều kỷ niệm ngọt ngào với Trang, ngày hai đứa có quãng thời gian hạnh phúc bên nhau. Hai đứa đã từng san sẻ, trao đổi cho nhau những cuốn băng cassettes, những tập nhạc thủ bút của nhạc sĩ họ Trịnh. Của đáng tội, ngày đó tôi thích tuần báo "Văn nghệ giải phóng" nên thường mua về đọc và mẹ tôi thỉnh thoảng cũng xem. Nhiều số báo phê phán nền văn học, âm nhạc của miền nam trước năm 75, trong đó tôi còn nhớ có một vài bài viết như thế bên cạnh là bức biếm họa cảnh bên ngoài mọi người đang lao động, trong nhà một thiếu nữ đang hát "Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…". Có lẽ vì vậy mà mẹ tôi xem nhạc Trịnh Công Sơn cũng là nhạc ủy mị, vàng vọt nên khi tổ thanh niên xung kích yêu cầu, mẹ tôi đã đem nộp các băng nhạc yêu thích của tôi. Một số tác phẩm văn học dịch nước ngoài như Vĩnh biệt tình em của Boris Paternak, Chuyện tình của Eric Segal, Câu chuyện của dòng sông của Hermann Hesse hay những cuốn truyện của Tự lực văn đoàn cũng được mẹ tôi giao nộp. Tôi không trách, không giận mẹ nhưng lòng đôi chút thoáng buồn và tiếc cho những cuốn sách mình phải tiết kiệm đôi lúc cả tiền ăn sáng và khi mua cũng đắn đo để chọn lựa những cuốn có giá trị về văn hóa, tinh thần. Tuy vậy, kệ sách của tôi không bị trống trơ lâu. Những tác phẩm văn học từ miền bắc đưa vào với giá bìa khá rẻ như Con đường đau khổ của Aleksei Tolstoi, Thép đã tôi thế đấy của Nhicalai Astrovxki, Ruồi trâu của Boris Polevoi, … cũng đưa chúng tôi vào thế giới văn học vừa lãng mạn, vừa chiến đấu khốc liệt cùng với những bộ truyện tình báo như Mười bảy khoảnh khắc của mùa xuân, Sợi chỉ mỏng manh,… thay cho những thiên kiếm hiệp dày cộm của Kim Dung, chúng nghiểm nhiên lần lượt thế vị trên giá sách đó.
Ngày ấy tuổi đôi mươi - Chương IX, Chương X Reviewed by Tân Phúc on 21:23:00 Rating: 5 CHƯƠNG IX Mấy ngày sau tình hình mỗi lúc mỗi gay cấn hơn. Tiếng bom đạn, tiếng cannon ùng oàng dội đến, những tràng tiểu liên vu vơ của mấy ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.