728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Cụm phản ánh trong các năng lực toán học theo chuẩn Pisa

Các năng lực trong cụm này bao gồm một yếu tố về sự phản ánh từ học sinh vè những quá trình cần đến hoặc được sử dụng để giải quyết một vấn đề.
Nên đọc trước để nắm tám năng lực toán: Tám năng lực toán học đặc trưng theo OECD/PISA

cum phan anh trong cac nang luc toan theo chuan pisa

Các năng lực này liên quan đến khả năng của học sinh để lên kế hoạch phương án giải và thực hiện giải toán trong tình huống vấn đề có nhiều thành phần hơn hay không quen thuộc như các câu hỏi trong cụm liên kết. Ngoài các năng lực được mô tả trong cụm liên kết, đối với cụm phản ánh bao gồm các năng lực sau đây:
1.    Tư duy và suy luận. Điều này liên quan đến việc đặt các câu hỏi (“ta tìm thấy... như thế nào?”, “toán học nào có liên quan...”, “những khía cạnh nào là chính yếu của bài toán hay tình huống...?” và hiểu các loại trả lời tương ứng (được đưa ra bới các phương tiện bảng, đồ thị, đại số, hình, đặc biệt là các điểm chốt...); phân biệt giữa các định nghĩa, định lý, dự đoán, giả thuyết, và các khẳng định về các trường hợp đặc biệt, và phản ánh về các sự khác biệt này; hiểu và thao tác các khái niệm toán học trong các tình huống mới hay phức tạp; hiểu và xử lý được các mở rộng và thu hẹp của các khái niệm toán học đã cho, và tổng quát hóa các kết quả.
2.    Lập luận. Điều này liên quan đến suy luận toán đơn giản, bao gồm việc phân biệt giữa quá trình đi chứng minh và các chứng minh và các dạng rộng hơn của lập luận và suy luận; theo dõi được, đánh giá và xây dựng chuỗi các lập luận toán học theo các dạng khác nhau; và sử dụng giải quyết vấn đề bằng kinh nghiệm (như “điều gì có thể hay không thể xảy ra, hay trường hợp nào và tại sao?”, “chúng ta biết gì, và chúng ta cần thu được gì?”, “các tính chất nào là cốt yếu?”, “các đối tượng liên kết với nhau như thế nào?”).
3.    Giao tiếp. Điều này liên quan đến việc hiểu và bộc lộ mình theo dạng nói cũng nhý dạng viết về các vấn ðề toán thay ðổi từ tái tạo các tên gọi và các tính chất cơ bản của những đối tượng quen thuộc và giải thích các tính toán và các kết quả của chúng (thông thường có nhiều hơn một cách), đến việc giải thích các vấn đề bao gồm các mối quan hệ phức tạp. Nó cũng liên quan đến các mệnh đề phát biểu bằng lời hay viết về những vấn đề như vậy.
4.    Mô hình hóa. Điều này liên quan đến việc cấu trúc của lĩnh vực hay bối cảnh được mô hình hóa; chuyển thể “hiện thực” thành các cấu trúc toán học phức tạp hay khác nhiều với những gì học sinh thường làm quen; lý giải ngược và xuôi giữa các mô hình (và kết quả của chúng) và “hiện thưc”, bao gồm các khía cạnh giao tiếp về các kết quả mô hình; thu thập thông tin và dữ liệu, thúc đẩy quá trình mô hình hóa và kiểm nghiệm mô hình đem lại kết quả. Nó cũng bao gồm việc phản ánh thông qua phân tích, đưa ra sự phê phán, và tham gia vào giao tiếp phức tạp hơn về các mô hình và quá trình mô hình hóa.
5.    Đặt vấn đề và giải. Điều này liên quan đến việc đặt và định dạng các bài toán xa hơn tái hiện lại các bài toán áp dụng và thuần túy theo dạng đóng; việc giải quyết các vấn đề như vậy bằng cách dùng các tiếp cận và quy trình tiêu chuẩn, nhưng các quá trình giải quyết vấn đề cũng mang tính khởi đầu hơn, trong đó các mối liên kết được thiết lập giữa các lĩnh vực toán học và các dạng biểu diễn và giao tiếp khác nhau (sơ đồ, bảng, đồ thị, chữ, hình). Nó cũng liên quan đến việc phản ánh về các phương án và lời giải.
6.    Biểu diễn. Điều này liên quan đến việc giải mã, mã hóa và giải thích các biểu diễn của các đối tượng toán học ít quen thuộc; chọn và chuyển dịch giữa các dạng biểu diễn khác nhau của các đối tượng và bối cảnh toán học, chuyển thể và phân biệt các dạng biểu diễn khác nhau. Nó liên quan nhiều hơn đến sự kết hợp sáng tạo của các biểu diễn và phát kiến được các biểu diễn không tiêu chuẩn khác.
7.    Sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hình thức, kỹ thuật và các phép toán. Điều này liên quan đến việc giải mã và giải thích các ngôn ngữ ký hiệu và hình thức cơ bản trong các bối cảnh và tình huống không biết trước; thực hiện các mệnh đề và biểu thức chứa các ký hiệu và công thức, bao gồm việc sử dụng các biến số, giải các phương trình và thực hiện các tính toán. Nó cũng liên quan đến khả năng để xử lý các mệnh đề và biểu thức phức tạp và với ngôn ngữ ký hiệu hình thức không quen thuộc, và để hiểu và chuyển dịch giữa ngôn ngữ đó với ngôn ngữ tự nhiên.
8.    Sử dụng các phương tiện hỗ trợ và công cụ. Điều này liên quan đến việc biết và sử dụng các phương tiện hỗ trợ và công cụ trong các bối cảnh, tình huống và các cách hoàn toàn khác với những gì đã được giới thiệu và thực hành. Nó cũng liên quan đến việc biết được các hạn chế của các trợ giúp và công cụ.
Các câu hỏi đánh giá cụm năng lực phản ánh có thể được mô tả qua những thể hiện chính sau đây: Suy luận bậc cao, lập luận, trừu tượng, tổng quát hóa, và mô hình hóa toán học được áp dụng vào các bối cảnh mới.
Hai cụm năng lực có mức độ thấp hơn đó là:  Cụm liên kết theo chuẩn Pisa và thấp nhất là:  Cụm tái tạo theo Pisa các bạn nên tham khảo thêm.
Cụm phản ánh trong các năng lực toán học theo chuẩn Pisa Reviewed by Tân Phúc on 11:13:00 Rating: 5 Các năng lực trong cụm này bao gồm một yếu tố về sự phản ánh từ học sinh vè những quá trình cần đến hoặc được sử dụng đ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.