728x90 AdSpace

Bấm nút để theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Tám năng lực toán học đặc trưng theo OECD/PISA

Một cá nhân phải tham gia vào toán học hóa thành công trong nhiều bối cảnh, các tình huống bên trong hay bên ngoài toán học, và những ý tưởng bao quát cần có được một số các năng lực toán học. Mỗi năng lực này có thể đạt được ở các mức độ thành thạo khác nhau. Những phần khác nhau của toán học hóa sẽ huy động các năng lực khác nhau, theo cả hai kỹ năng cụ thể và mức độ thành thạo đòi hỏi. Để xác định và kiểm tra những năng lực này, OECD/PISA đã quyết định sử dụng tám năng lực toán học đặc trưng theo công trình của Niss (1999) và các đồng nghiệp Đan Mạch của ông. Những thiết lập tương tự có thể được tìm thấy trong những công trình của những người khác (như được đề cập đến trong Neubrand và những người khác, 2001). 

tam nang luc toan hoc dac trung cua pisa, nang luc toan hoc theo pisa

Một số thuật ngữ được sử dụng, tuy nhiên cách dùng khác nhau với những tác giả khác nhau. Dưới đây là tám năng lực toán học đặc trưng theo khung đánh giá của OECD/PISA
1.    Tư duy và suy luận. Điều này liên quan đến việc đặt các câu hỏi đặc trưng toán (“Có hay không…?”, “Nếu như vậy, có bao nhiêu?”, “Làm thế nào chúng ta tìm..?”); biết loại câu trả lời mà toán học có thể đáp ứng cho những câu hỏi như vậy; phân biệt các loại mệnh đề khác nhau (định nghĩa, định lý, phỏng đoán, giả thuyết, ví dụ, khẳng định có điều kiện); hiểu và xác định phạm vi cũng như các hạn chế của các khái niệm toán đã cho.
2.    Lập luận. Điều này liên quan đến việc biết các chứng minh toán học là gì và chúng khác với các loại suy luận khác như thế nào; theo dõi và đánh giá các chuỗi lập luận toán của nhiều loại khác nhau; thu được cảm nhận về giải quyết vấn đè bằng kinh nghiệm (“Điều có thể (không thể) xảy ra, và tại sao?); tạo nên và trình bày các lập luận toán.
3.    Giao tiếp. Điều này liên quan đến việc bộc lộ mình, theo nhiều cách, về những vấn đề với một nội dung toán, theo dạng nói cũng như dạng viết, hiểu được những mệnh đề được nói hay viết bởi những người khác về những vấn đề như vậy.
4.    Mô hình hóa. Điều này liên quan đến việc cấu trúc lĩnh vực hay bối cảnh được mô hinh hóa; chuyển thể “thực tế” thành các cấu trúc toán; giải thích các mô hình toán học theo nghĩa “thực tế”; làm việc với một mô hình toán; làm cho mô hình thỏa đáng; phản ánh, phân tích và đưa ra sự phê phán cũng như các kết quả của nó; giao tiếp về mô hình và các kết quả của nó (bao gồm hạn chế của các kết quả như vậy); và giám sát và điều khiển quá trình mô hình hóa.
5.    Đặt vấn đề và giải. Điều này liên quan đến việc đặt, định dạng và xác điinhj những loại khác nhau của các vấn đề toán (ví dụ: “thuần túy toán”, “ứng dụng”, “kết thúc mở” và “đóng”); và giải quyết nhiều dạng bài toán khác nhau theo nhiều cách.
6.    Biểu diễn. Điều này liên quan đến việc giải mã, mã hóa, chuyển thể, giải thích và phân biệt giữa các dạng khác nhau của các biểu diễn của những đối tượng và bối cảnh toán học, và những mối quan hệ bên trong giữa các biểu diễn khác nhau; chọn và chuyển dịch giữa các dạng khác nhau của biểu diễn tùy theo bối cảnh và mục đích.
7.    Sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hình thức, kỹ thuật và các phép toán. Điều này liên quan đến  việc giải mã và giải thích các ngôn ngữ ký hiệu và hình thức, và hiểu được mối quan hệ của nó với ngôn ngữ tự nhiên; chuyên thể ngôn ngữ tự nhiên thành ngôn ngữ ký hiệu hay hình thức; xử lý các mệnh đề và biểu thức chứa các ký hiệu và công thức; dùng các biến số, giải các phương trình và thực hiện các phép tính.
8.    Sử dụng các đồ dùng hỗ trợ và công cụ. Điều này liên quan đến việc biết về và có khả năng sử dụng nhiều loại phương tiện hỗ trợ khác nhau (bao gồm công cụ công nghệ thông tin) có thể trợ giúp cho hoạt động toán, và biết các hạn chế của những loại công cụ đó.
PISA không có ý định phát triển các câu hỏi kiểm tra để đánh giá các năng lực trên một cách riêng lẻ. Có phần giao nhau đáng quan tâm giữa chúng với nhau, và khi sử dụng toán, người ta thường huy động đồng thời nhiều năng lực, như thế bất kỳ một nổ lực xâm nhập vào một năng lực riêng lẻ có vẻ như đó là các nhiệm vụ giả tạo và việc phân chia lĩnh vực hiểu biết toán là không cần thiết nữa. Các năng lực đặc thù học sinh sử dụng để trình bày sẽ thay đổi đáng kể tùy thuộc vào cá nhân học sinh. Điều này là bộ phận vì tất cả viecj học đều xảy ra thông qua kinh nghiệm, “với sự kiến tạo tri thức cá nhân xảy ra thông qua các quá trình tương tác,. thương lượng và hợp tác” (de Corte, Greer, & Verschaffel, 1996, t. 510).
PISA giả thiết rằng phần lớn toán của học sinh được học từ nhà trường. Việc hiểu một lĩnh vực được đòi hỏi thường xuyên. Những cách trừu tượng và hình thức hơn của biểu diễn và suy luận nổi lên theo thời gian như là một hệ quả của việc tham gia vào các hoạt động được thiết kế để giúp nảy sinh các ý tưởng không chính thức. Hiểu biết toán cũng thu được thông qua kinh nghiệm liên quan đến tương tác trong nhiều bối cảnh và tình huống xã hội khác nhau.
Để mô tả  và báo cáo một cách hiệu suất các năng lực của học sinh, cũng như thế mạnh và điểm yếu theo một quan điểm quốc tế thì người ta cần đến một vài cấu trúc. Một cách đưa ra cấu trúc đó theo cách dễ hiểu và quản lý được là mô tả theo các cụm năng lực, dựa trên các loại nhu cầu nhận thức cần đến để giải quyết các bài toán khác nhau.
Tám năng lực toán học đặc trưng theo OECD/PISA Reviewed by Tân Phúc on 19:45:00 Rating: 5 Một cá nhân phải tham gia vào toán học hóa thành công trong nhiều bối cảnh, các tình huống bên trong hay bên ngoài toán học, và những ý tưở...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.