728x90 AdSpace

Bấm nút để theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh (phần I)

Tư tưởng và cũng là mục đích của quá trình đổi mới Phương pháp giảng dạy là tích cực hoá hoạt động học tập:
Tích cực ở đây là tích cực trong hoạt động nhận thức như là một trạng thái hoạt động được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự nỗ lực tự nguyện về mặt trí tuệ với nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức cho bản thân. Nếu như tính tích cực được thể hiện ở các cấp độ: bắt chước, tái hiện, tìm tòi, sáng tạo, thì học sinh trung học cần phải vươn tới hai cấp độ: tìm tòi khám phá và sáng tạo.
Xem thêm:  
  1. Đổi mới dạy và học Toán ở bậc học phổ thông hiện nay NGƯT Trần Dư Sinh 
  2. Giáo trình Phương Pháp Dạy Học môn Toán - Bùi Thị Hường
Tích cực ở đây là tích cực một cách chủ động theo nghĩa là người học chủ động toàn bộ quá trình tìm tòi phát hiện và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên (không phải ở trong trình trạng giáo viên dẫn dắt đến đâu thì giải quyết đến đó - mặc dù có tích cực hoá hoạt động).
tich cuc hoa hoat dong hoc tap cua hoc sinh phan so 1

Có hai cách tiếp cận chính trong dạy và học toán: Cách tiếp cận lấy thầy giáo làm trung tâm và cách tiếp cận lấy học sinh làm trung tâm. Những phương pháp lấy thầy giáo làm trung tâm được biết đến như là: dạy trực tiếp, dạy kiểu suy diễn, dạy kiểu trình diễn. Thầy giáo là tiêu biểu cho những phương pháp này.
Trong các phương pháp giảng dạy này, thầy giáo điều khiển kiến thức gì sẽ được học và học sinh sẽ trình bày các thông tin đã đuợc truyền thụ như thế nào. Những đặc điểm của cách dạy này được thể hiện qua:
  • Dạy toán và chương trình dựa trên quan điểm truyền thụ về việc dạy và học.
  • Học sinh thụ động “tiếp nhận” các cấu trúc toán học phát minh bởi những người khác và được ghi lại trong sách giáo khoa hoặc được truyền thụ bởi những người lớn có thẩm quyền (thầy giáo, nhà giáo dục...).
  • Việc dạy bao gồm việc truyền thụ các kiến thức, kỹ năng, và khái niệm đã được thiết lập sẵn cho học sinh.
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học, những nhà giáo dục toán đã tiến hành các nghiên cứu định hướng đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo nhằm nâng cao khả năng tư duy phê phán và sáng tạo cho học sinh trong giải quyết các vấn đề toán học.
Những định hướng này chú trọng mạnh hơn vào người học, và đôi khi chúng được đặt tên là những phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Phương pháp dạy học này nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dựa trên nguyên tắc: GV giúp HS tự khám phá dựa trên cơ sở tự giác và được tự do (tự do suy nghĩ, tranh luận, đề xuất vấn đề đang phải giải quyết). Còn có những ý kiến khác nhau chung quanh việc bàn luận về tư tưởng dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Tuy nhiên phải thừa nhận rằng tư tưởng đó vốn đã xuất hiện từ hàng trăm năm nay như là một tư tưởng tiến bộ. Vấn đề đặt ra là hiểu và quán triệt nó như thế nào vào thực tiễn để tránh những biểu hiện cực đoan.
Phương pháp lấy học sinh làm trung tâm được biết như là:  học khám phá, học qui nạp, học giải quyết vấn đề, học thắc mắc, tìm tòi.
Cần đọc:  Những xu hướng nghiên cứu giáo dục toán

1.1.    Tính tích cực và sáng tạo của hoạt động học tập 
Học tập tích cực, độc lập, sáng tạo có ảnh hưởng đến sự phát triển hứng thú và tự giác. Niềm hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề một cách độc lập dài hơi.
Những kết quả của nghiên cứu giáo dục cho thấy để phát huy tính tích cực học tập của học sinh, GV nên:
  • Thừa nhận, tôn trọng, hiểu, đồng cảm với nhu cầu lợi ích, mục đích, cá nhân của HS. Đạt được độ tin cậy, tạo sức thu hút, thuyết phục, kích thích động cơ bên trong của HS.
  • Chống gò ép, ban phát, giáo điều, nuôi dưỡng tính sẵn sàng, tính tích cực ý chí của người học để đạt mục đích học tập và phát triển cá nhân.
  • Tổ chức những tình huống có vấn đề đòi hỏi HS phải quan sát, dự đoán, nêu giả thuyết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngược khi giải quyết vấn đề.
  • Dạy học ở mức độ phù hợp với HS. Một nội dung quá dễ hoặc quá khó sẽ không gây được hứng thú. Cần biết dẫn dắt HS tìm thấy cái mới, có thể tự mình kiến tạo được tri thức, cảm thấy càng tự tin vào chính khả năng toán của mình.
  • Tạo ra không khí thuận lợi cho lớp học, có sự giao tiếp thuận lợi giữa thầy và trò, giữa trò và trò bằng cách kết hợp tổ chức các hoạt động học tập trong lớp học theo cá nhân và hợp tác.
  •  Tạo ra tình huống chứa một số điều kiện xuất phát rồi yêu cầu học sinh đề xuất càng nhiều giải pháp càng tốt. Việc đánh giá tính sáng tạo được căn cứ vào tính mới mẻ, tính độc đáo và tính hữu ích của các giải pháp.
Học tập sáng tạo là cái đích cần đạt. Tính sáng tạo liên quan với tính tích cực, chủ động, độc lập trong học tập.
Xem thêm:  Định nghĩa về hiểu biết toán của OECD/PISA
 
1.2.    Tình huống học tập trong hoạt động

Những kết quả nghiên cứu gần đây của tâm lý học chỉ ra rằng nhân cách của chủ thể nhận thức được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động, có ý thức. Trong những lý thuyết về việc học dựa trên cơ sở tâm lý học thì lý thuyết kiến tạo đã có tiếng nói mạnh mẽ trong giáo dục toán học những thập niên gần đây. 
Lý thuyết kiến tạo cơ bản được trình bày dựa trên hai nguyên tắc sau:
  • Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức, chứ không phải được tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài.
  • Nhận thức là quá trình điều ứng và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi ng-ười. Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể.
Hai giả thuyết này nhằm bác bỏ việc áp đặt và truyền thụ một chiều thụ động đến người học. Giả thuyết thứ nhất nhấn mạnh việc học mang tính chủ động. Giả thuyết thứ hai cho rằng việc học mang tính cá nhân. Ngoài ra, lý thuyết kiến tạo xã hội đã bổ sung thêm bốn nguyên tắc (xem Paul Ernest, 1991):
  • Những lý thuyết có tính cá nhân thu được từ sự sắp xếp lại các kinh nghiệm của bản thân phải phù hợp với những ràng buộc được ấn định bởi thực tiễn tự nhiên và xã hội;
  • Con người đạt được những lý thuyết này theo chu trình: Lý thuyết - Dự đoán - Thử nghiệm - Thất bại - Thích nghi - Lý thuyết mới;
  • Chu trình đó sẽ đưa đến những lý thuyết được xã hội công nhận về thực tiễn tự nhiên và xã hội cùng các nguyên tắc về ngôn ngữ được sử dụng;
  • Toán học là lý thuyết về hình thái và cấu trúc được nảy sinh ra từ trong ngôn ngữ.
Lý thuyết kiến tạo như là một triết học không phải là mới, nhưng việc thực hành lý thuyết đó vào nền giáo dục hiện đại vẫn còn đang ở giai đoạn định hình. Trong lý thuyết kiến tạo cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Thay vì bàn cải sự khác nhau giữa các quan điểm, chúng ta chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để áp dụng lý thuyết kiến tạo vào trong lớp học.
Học là một quá trình mang tính xã hội tích cực, theo những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra:
-    Học sinh học tốt nhất khi các em được đặt trong một môi trường học tập có tính xã hội tích cực, ở đó các em có điều kiện và khả năng để kiến tạo sự hiểu biết của riêng mình.
-    Khi có hoạt động dạy học xảy ra trong môi trường như vậy là tạo ra mô hình dạy học kiểu kiến tạo.
-    Mọi người nên nhớ rằng: ‘Trẻ em tập đi bằng cách đi chứ không phải bằng cách được dạy các qui tắc để đi và rồi thực hành các bài tập về đi’.
Khi áp dụng lý thuyết kiến tạo vào giáo dục toán, chúng ta sẽ có được những phương pháp dạy học trong hoạt động.
Phần thứ nhất trong series bài Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh tạm thời kết thúc ở đây, kỳ tới sẽ là bài: Những quan điểm khi thiết kế những hoạt động học tập toán ở THPT

Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh (phần I) Reviewed by Tân Phúc on 16:28:00 Rating: 5 Tư tưởng và cũng là mục đích của quá trình đổi mới Phương pháp giảng dạy là tích cực hoá hoạt động học tập: Tích cực ở đây là tích cực t...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.