728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Giáo dục Toán và nghiên cứu giáo dục Toán

Đôi lời phi lộ: Vừa rồi, có một vị vào tập huấn về mô hình trường học mới cho THCS, tôi có trong danh sách đề nghị được tập huấn, nghe mà nản, đổi  mới toàn diện cái kiểu này chắc "chớt" mất, những gì tôi nghe được sặc mùi kim tiền. Viết tài liệu thì có vẻ có chút lý thuyết kiến tạo ở trong ấy, nhưng đọc kỹ thì không ra kiến tạo gì hết, mà truyền thống không ra truyền thống, đại loại là thập cẩm. Tôi định hỏi mấy câu, nhưng thôi đáng thương quá! Đáng nói thay, vào buổi chiều cuối cùng có cái ông vụ vụ gì đó còn hách dịch "tôi kí công văn nọ, tôi chỉ đạo hoạt động kia, dạy không được là do các thầy cô không có năng lực thì có", nghe mà đau lòng con cuốc cuốc, nghĩ lại mà buồn cho giáo dục, hỏi ông trời những người có tâm có tầm ở đâu hết rồi?
Ngồi bên ly cà phê, khói thuốc đưa lòng ta lơ mơ ở chốn nào, nghĩ lại mấy câu chuyện vụn vặt vừa qua đối với bản thân tôi mà thấy rằng mọi thứ không hề như ta nghĩ, có lẽ chăng năng lực là cái gì đó nghèo mạt, rẽ rúng?
Thôi thì con đường nào cũng là con đường, và hãy nghĩ như những gì ta đã từng nghĩ!
Gác lại những dòng rời rạc trên, hôm nay tôi xin gửi đến bạn đọc vấn đề giáo dục Toán và nghiên cứu giáo dục Toán.
giao duc toan va nghien cuu giao duc toan
Nhà giáo dục nổi tiếng Jean Piaget
1. Giáo dục Toán
Giáo dục toán quan tâm đến việc phát triển và thực hiện một chương trình toán phù hợp, và các vấn đề liên quan đến việc dạy và học toán. Với quan điểm về việc học suốt đời, giáo dục toán bao gồm người học ở mọi lứa tuổi và mọi trình độ, từ trẻ em cho đến người lớn. Như vậy, giáo dục toán không chỉ gắn liền với chương trình, lớp học, thầy và trò trong nhà trường, mà còn gồm cả các vấn đề có liên quan đến toán học nhà trường.
Mặc dù những ranh giới giữa toán học và giáo dục toán khó có thể được xác định rõ ràng, nhưng “giáo dục toán” thường chứa đựng nhiều nội dung toán mà ít phương pháp dạy học. Điều này thường thấy trong các chương trình đào tạo giáo viên toán ở các nước ở châu Á, đặc biệt chương trình sư phạm toán đào tạo giáo viên bậc trung học phổ thông không khác gì mấy với chương trình đại học toán ở các trường đại học tổng hợp. Có rất ít các trao đổi thông tin về chương trình đào tạo giáo viên toán bậc trung học phổ thông giữa các trường đại học sư phạm và đại học tổng hợp.
2. Nghiên cứu  giáo dục Toán
Nghiên cứu giáo dục toán liên quan đến việc thiết kế, tiến hành, lý giải và báo cáo nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục toán. Nghiên cứu giáo dục toán là không phải chỉ hạn chế ở những câu hỏi như: “Ta nên dạy khái niệm đạo hàm cho học sinh lớp 11 như thế nào?” hay “Có phải cách tiếp cận dùng đường tròn đơn vị để dạy lượng giác là tốt hơn khi dùng tam giác vuông không?” Mặc dù, những câu hỏi mang tính nội dung như vậy có thể hình thành cơ sở cho những khảo sát nghiên cứu chính đáng, nhưng hiện nay có rất nghiều nghiên cứu giáo dục toán trên thế giới gắn liền với nhiều lĩnh vực khác với nội dung toán. Những nghiên cứu này bao gồm, chẳng hạn như giới tính và sự bình đẳng trong lớp học, giải quyết vấn đề, lý thuyết kiến tạo, học hợp tác theo nhóm, những ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hoá lên việc học toán, những ứng dụng của khoa học công nghệ cao vào chương trình toán hiện hành, chương trình toán dành cho những trẻ em có nhu cầu đặc biệt và việc phát triển những chu trình đánh giá phù hợp cho toán học nhà trường.
3. Tranh luận về định lượng định tính
Theo Burns (2000, Introduction to Research Methods):
Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng việc tiếp cận định lượng khoa học đã "chê bai" tính cá nhân và khả năng suy nghĩ của con người. Những đặc trưng có tính máy móc của nó có xu thế loại trừ các khái niệm về tự do, chọn lựa và trách nhiệm đạo đức. Tính định lượng có thể trở thành một kết thúc trong bản thân nó hơn là một cố gắng tìm kiếm để khám khá các điều kiện về con người. Nó thất bại khi xem xét những khả năng độc đáo của con người khi giải thích những kinh nghiệm của họ, kiến tạo ý nghĩa cho riêng mình. Nó thường đưa ra những kết quả nghiên cứu tầm thường và vô vị rút ra từ những hạn chế và điều khiển các biến số. [Điều này đặc biệt đúng đối với nghiên cứu định lượng trong giáo dục toán]. Những kết quả nghiên cứu thường không dựa trên thực tiễn cuộc sống phong phú (mà nó là sự tổng hợp các hành vi và nổ lực của con người). Bởi vì sự đánh giá của con người là rất sâu sắc, nó là một bộ phận của mọi hành động của con người, nên mục tiêu được giả thuyết là một sự ảo tưởng.
Nghiên cứu định tính không chấp nhận nền móng nhận thức luận của nghiên cứu định lượng vì nó cho rằng "tồn tại những nhân tố xã hội có thể được xác định và định lượng được". Nghiên cứu định tính nhấn mạnh đến tính giá trị của các ý nghĩa và phân tích toàn cục (hơn là từng mẫu nhỏ). Nó đóng vai trò quan trọng trong những kinh nghiệm chủ quan của con người và những ý nghĩa mà họ rút ra được từ những kinh nghiệm đó. Vì vậy, "hiện thực" của một cá nhân được đặt trong môi trường giáo dục mà có thể không được xem như là một toàn cục ổn định và phụ trợ mà như là một loại biến số và chỉ có thể hiểu được nó thông qua sự phân tích các dạng khác nhau của cá nhân về việc hiểu.
Nhiệm vụ của người nghiên cứu định tính là nắm bắt được những gì con người nói và làm như là một sản phẩm về sự lý giải của họ về sự phức tạp của thế giới đang sống, và để hiểu những sự kiện từ những quan điểm của những người tham gia vào nghiên cứu.
Những phương pháp định tính là những quá trình thực sự chứ không phải là những hệ quả, với tính toàn cục chứ không phải những biến số độc lập, và với những ý nghĩa chứ không phải thống kê có tính hành vi.
Việc tranh luận về các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính bây giờ đã lắng xuống và đi đến một thoả thuận là cả hai loại nghiên cứu đều cần thiết bởi vì có nhiều hơn một cổng để đi vào thế giới hiện thực.
4. Những thế mạnh của nghiên cứu định tính
Bởi vì nhu cầu của người nghiên cứu định tính là dể duy trì sự hợp tác gắn bó giữa các người tham gia vào nghiên cứu và những hoạt động được đặt ra, nhà nghiên cứu gặt hái được quan điểm của người trong cuộc về lĩnh vực được nghiên cứu. Hơn nữa, "như những cái lưới của những người khám phá biển sâu, những nghiên cứu định tính có thể rút ra được những điều không dự kiến trước và những điều thu hút sự quan tâm của chúng ta.
Nghiên cứu định tính thường hợp thành một sự liên kết liên tục giữa việc thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu, sao cho những kết quả thu được là xuất hiện thường xuyên và được sử dụng như là cơ sở của việc nghiên cứu đang tiến hành. iều này thường là một quá trình cải tiến khi nhà nghiên cứu càng ngày càng gần với "hiện thực" của những người tham gia.
Những mô tả định tính có thể vai trò quan trọng trong việc đề xuất những mối quan hệ , những nguyên nhân, tác động có thể có, và ngay cả những tổ chức của nhà trường. Nghiên cứu định tính cũng có thể: 
(1) làm nổi bật những đặc tính của các hành vi và các đáp ứng của học sinh, 
(2) soi sáng những lý do cho các hành động, và 
(3) cung cấp những thông tin sâu sắc về các hành động của giáo viên và việc học của học sinh.
5. Những hạn chế của nghiên cứu định tính
Trong nghiên cứu định tính thì các hoàn cảnh, tình huống, các sự kiện và những tương tác không thể tái tạo lại được cho bất kỳ một mở rộng nào và cũng không có tổng quát hoá nào được thiết lập với sự tự tin cho một tình huống rộng hơn tình huống được nghiên cứu. Do đó, khó để áp dụng những tiêu chuẩn thông thường về độ tin cậy và tính giá trị ngoại vi cho nghiên cứu định tính.  Vì thế nó bắt buộc các bài kiểm tra và những công cụ khác phải chỉ ra được tính giá trị nội tại, có nghĩa là, chúng phải xem là nổi lên từ những cấu trúc lý thuyết có ý nghĩa.
6. Tiến đến những chương trình nghiên cứu giáo dục toán cân đối hơn
Trong hai thập niên 70 và 80, hầu hết các nghiên cứu giáo dục bao gồm cả giáo dục toán về bản chất đều là định lượng. Những nghiên cứu này sử dụng các qui trình thống kê có tính kết luận để tổng quát hoá kết quả từ các mẫu thực nghiệm. Một cách hiểu ngầm định trong các nghiên cứu đó là, nếu các đề cương nghiên cứu được thiết kế cẩn thận thì chắc chắn sẽ tổng quát hoá được những sự thật nào đó liên quan đến giáo dục. Ngày nay, tư tưởng nghiên cứu như vậy vẫn còn tồn tại ở nhiều nước trong khu vực.
Tuy nhiên vào những năm 90, có nhiều nhà giáo dục toán ít đặt niềm tin vào những kết luận nghiên cứu giáo dục rút ra từ những thực nghiệm mang tính thống kê. 

Giáo dục Toán và nghiên cứu giáo dục Toán Reviewed by Tân Phúc on 23:22:00 Rating: 5 Đôi lời phi lộ: Vừa rồi, có một vị vào tập huấn về mô hình trường học mới cho THCS, tôi có trong danh sách đề nghị được tập huấn, nghe mà ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.