728x90 AdSpace

Bấm nút để theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Giúp bạn đọc tìm hiểu về Lý thuyết kiến tạo

Không có gì ngạc nhiên khi lý thuyết kiến tạo có tiếng nói mạnh mẽ trong các cuộc tranh luận về giáo dục toán hiện nay và nhiều người cho rằng đó là lý thuyết tốt nhất hiện có về việc học, hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu về Lý thuyết kiến tạo nhé.
Bài viết cần xem:  
Những người theo lý thuyết kiến tạo đã và đang cố gắng để phát triển một lý luận cơ bản về những hoạt động của một giáo viên, những hoạt động đó được thiết kế phù hợp với những hướng chính của lý thuyết kiến tạo về việc học. Với những người theo lý thuyết kiến tạo thì không có những mối liên hệ trực tiếp giữa dạy và học bởi vì kiến thức của người giáo viên không thể được truyền thụ sang học sinh. Tri thức của giáo viên là không thể xâm nhập được đối với học sinh và ngược lại. Khái niệm về tri thức của cộng đồng các nhà toán học tăng nhanh trái ngược với khả năng quốc tế hoá bởi cá nhân.

cơ sở tâm lý của lý thuyết kiến tạo trong dạy học, co so tam ly cua thuyet kien tao
Ảnh: Trẻ học đi bằng cách đi chứ không học các quy tắc đi để đi
Một vài người theo lý thuyết kiến tạo xã hội khẳng định quá trình kiến tạo tri thức gắn liền với văn hoá, và thêm vào những sự xây dựng của trẻ em và làm cho chúng có ý  nghĩa. Bauersfeld (1995) đã đề nghị phần cốt lõi của sự gắn liền với văn hoá của toán học nhà trường có hiệu lực ở nhiều mức độ và được học một cách gián tiếp.
Cobb (1989) đã khẳng định là những kiến tạo toán học của trẻ em được chi phối một cách đáng kể bởi những điều kiện xã hội và văn hoá.
Ở mức độ tổng quát nhất, với những người theo lý thuyết kiện tạo cơ bản thì nguyên tắc đầu tiên là thầy giáo nhận ra được rằng mình không phải đang dạy học sinh về toán học mà là đang dạy học sinh làm thế nào để phát triển nhận thức của các em (Confrey, 1990, t.110). Thầy giáo là một người học trong hoạt động dạy.
Với lập luận như vậy dẫn đến việc dạy phải là một nhiệm vụ phỏng đoán những mô hình tri thức được kiến thiết bởi học sinh và những giả thuyết tổng quát, làm thế nào để học sinh có được những thời cơ sửa đổi những cấu trúc đã có của mình nhằm đi đến những những hoạt động toán học được xem như phù hợp với những mong đợi và mục đích của thầy giáo (von Glasersfeld, 1990, t.34).
Việc tuân thủ các nguyên tắc kiến tạo không phải chỉ bao hàm một tiếp cận đến những gì học sinh làm trong khi học: những nguyên lý cơ bản đi vào hoạt động có tính người thông qua nguyên tắc của sự tự phản ánh, điều đó có nghĩa là chúng ta áp dụng những nguyên lý cơ bản trước hết cho chúng ta và trong hoạt động của chính chúng ta (Steffe and DAmbrosio, 1995, t.146).
Ở mức độ chi chi tiết hơn, những nhà giáo dục toán theo lý thuyết kiến tạo đã nổ lực thông qua kinh nghiệm giảng dạy để minh hoạ là các nhà nghiên cứu đã thu nhận được những ý nghĩa như thế nào về hành vi của học sinh theo những cấu trúc nhận thức đang có của các em nhằm dự đoán được những hoạt động nào là phù hợp để mở rộng cấu trúc nhận thức của các em một cách toán học. Có ba vấn đề quan trọng ở trong việc làm này:
a)    tiến hành nghiên cứu trong một tình huống thực nghiệm giảng dạy là không giống như việc dạy trong một lớp học sinh;
b)    quá trình mở rộng cấu trúc nhận thức cần phải được phân tích, đặc biệt là theo thuật ngữ thích nghi hoặc điều ứng;
c)    một phân tích cần được tiến hành về điều gì có nghĩa là cách kiến tạo có hiệu quả hơn và mạnh mẽ hơn (Confrey, 1990, t.111), bởi vì mục đích của người thầy giáo toán là mở rộng kiến thức của học sinh mình một cách toán học.
Về vấn đề thứ nhất nêu ra ở trên, trong mối quan hệ của các kiến thức toán và cấu trúc của các cá nhân học sinh người ta thấy rằng có hai miền hiện tượng. Miền thứ nhất về các hiện tượng tâm lý và miền thứ hai về các hiện tượng xã hội học. Thầy giáo đứng lớp không tránh được việc phải chú tâm thực sự đến miền thứ hai và người nghiên cứu ngay cả khi dạy thực nghiệm phải tránh nhầm lẫn giữa hai miền đó. Điều này hoàn toàn nhất quán với quan niệm là với mức độ cá nhân, lý thuyết kiến tạo xem như là những hiệu ứng mà học sinh thể hiện được trong sơ đồ nhận thức của mình.
Ở  mức độ các nhóm học sinh, Steffe và DAmbrosio (1995) đã trình bày việc dạy học theo lý thuyết kiến tạo như là một quá trình tương tác giữa các học sinh với nhau trong một môi trường học tập được thiết kế dựa trên cơ sở một hiểu biết thực trạng toán học của học sinh.
Môi trường học tập này bao gồm ba thành phần:
  • việc tạo nên những tình huống;
  • khuyến khích sự phản ánh;
  • trao đổi toán học có tính tương tác.
Theo cách nhìn này, cũng nên nhắc đến là Kilpatrick (1987) đã đề nghị là những phương pháp dạy học cụ thể là không dành riêng và cũng không biểu lộ những nhận thức luận cụ thể). Phản ánh phục vụ hai mục đích: nó cho phép cá nhân bước ra ngoài kinh nghiệm của bản thân mình và xem nó như là một đối tuợng theo sự đúng đắn có tính cá nhân, và nó có thể tạo cơ hội cho những học sinh khác tranh luận, điều đó cho phép các em so sánh và tương phản với quan điểm của chính mình. Dĩ nhiên những hoạt động dạy học là lĩnh vực của các tương tác xã hội cho nên việc động viên các trao đổi tương tác toán học, bằng miệng hay những cách khác đều có thể khuyến khích sự phản ánh và tạo nên tri thức toán học của các em theo những cách phù hợp và cần thời gian (Steffe và DAmbrosio, 1995, t.156).

 
Về vấn đề thứ hai, Steffe và DAmbrosio (1995) đã phân biệt các khái niệm về tình huống và bài toán hoặc nhiệm vụ (Simon, 1995),  tình huống được sử dụng để cố gắng đưa lên phía trước, duy trì, động viên và sửa đổi tri thức toán học của học sinh. Họ lý giải là những tình huống gắn liền với sự tổng quát hoá tính thích nghi điều đó theo cách nói của những người theo lý thuyết kiến tạo là sự truyền thụ tri thức (Steffe và Wiegel, 1994). Sự quan tâm của nó là sự trung hoà và những trạng thái lo lắng. Vấn đề và nhiệm vụ toán học được đặt ra bởi thầy giáo ở những điểm chốt khi nào họ thấy cần thiết với mục đích nhằm vào sự hiệu ứng thông qua việc thiết lập các đối lập nhận thức cho học sinh.
Đến đây chúng ta sẽ bàn đến vấn đề thứ ba. Nếu việc học trong hoàn cảnh này không thể diễn đạt phù hợp với những công cụ văn hoá của cộng đồng toán học thì những người theo lý thuyết kiến tạo phải đối mặt với vấn đề là làm rõ phương hướng mà việc học toán phải theo đuổi đối với mọi cá nhân. Do toàn bộ việc học là một quá trình kiến tạo nên học sinh sẽ làm như vậy ở bất kỳ tình huống lớp học nào.
Những lớp học kiến tạo được phân biệt như là những lớp học mà khuyến khích sự kiến tạo tri thức hiệu quả và mạnh mẽ trong toán học (Confrey, 1990; Simon, 1995). Khi nhấn mạnh vấn đề làm thế nào để học sinh có thể kiến tạo được những ý tưởng toán học mạnh mẽ như thế, Confrey đã đề nghị là trước hết học sinh phải tin tưởng vào kiến thức của mình bởi vì theo quan điểm kiến tạo thì niềm tin đó dẫn đến tri thức. Như vậy vấn đề tự quản của học sinh là rất cần thiết.
 Confrey (1990) đã khẳng định rằng con người có thể liệt kê những gì sẽ làm cho sự kiến tạo hiệu quả và mạnh mẽ theo quan niệm toán học:
1)    Một cấu trúc với một đánh giá về sự ổn định nội tại;
2)    Một sự tích hợp xuyên suốt nhiều khái niệm;
3)    Một sự hội tụ giữa nhiều dạng và hoàn cảnh trình bày;
4)    Một khả năng có thể được phản ánh và mô tả;
5)    Một sự liên tục có tính lịch sử;
6)    Những gắn bó giữa các hệ thống ký hiệu;
7)    Một sự đồng ý với các chuyên gia;
8)    Một tiềm năng để hành động như là một công cụ cho các kiến tạo xa hơn;
9)    Một hướng dẫn cho các hoạt động tương lai;
10)    Một khả năng để bào chữa và bảo vệ.
Do đó những chương trình dạy học có thể được thiết kế  với mục đích thúc đẩy sự phát triển những nét đặc trưng này của hoạt động toán học.

Dành cho những người đang nghiên cứu mô hình hóa toán học:
Giúp bạn đọc tìm hiểu về Lý thuyết kiến tạo Reviewed by Tân Phúc on 13:02:00 Rating: 5 Không có gì ngạc nhiên khi lý thuyết kiến tạo có tiếng nói mạnh mẽ trong các cuộc tranh luận về giáo dục toán hiện nay và nhiều người cho r...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.