728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Cách soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán

Muốn xưng hùng thì ít nhất phải biết chút ít võ công, muốn đi dạy thì phải học nghề, đại loại như thế. Ghé qua mấy Fanpage về chủ đề soạn đề trắc nghiệm toán mới thấy đau lòng. Mấy ông giáo nhà ta liên tục cho ra lò các đề trắc nghiệm, mới đọc được mấy câu hỏi mà bản thân mình đã thấy rằng hầu như soạn cho có nếu không nói là không biết gì về soạn câu hỏi trắc nghiệm. Cái chuyện phán xét, chúng tôi đây không ưu nhưng rốt cuộc phải nhảy vào cuộc để bàn luận.
Nghiên cứu liên quan: 
Những luận bàn về cách soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán dưới đây của chúng tôi với mục đích cung cấp cho giáo viên những kỹ thuật, công cụ hữu hiệu nhất để giải quyết tình cảnh phải gấp rút cho ra lò những bộ đề thi về trắc nghiệm toán chất lượng hơn so với loại làng nhàng các câu hỏi trắc nghiệm mà thiên hạ sục sôi trên Face, trên các diễn đàn khác.
Nếu rãnh thì bạn đọc ghé thăm website thi thử: đề thi thử quốc gia 2017 trắc nghiệm và tự luận để có cái nhìn rõ rệt hơn.
1. Một chút về câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Là loại câu hỏi mà một số phương án trả lời đã được cung cấp sẵn, trong đó chỉ có một phương án trả lời đúng và học sinh phải chỉ ra phương án đúng đó. Nếu học sinh phải viết câu trả lời thì đó là những thông tin ngắn gọn và duy nhất đúng.
Bài làm trắc nghiệm khách quan được chấm điểm bằng cách đếm số lần mà người làm trắc nghiệm chọn hoặc chọn câu trả lời đúng. Như vậy có thể coi kết quả chấm điểm hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào người chấm bài.
2. Hướng dẫn cách soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán 
Để xây dựng, soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán hay các môn khác, người ta thường sử dụng các dạng câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi đúng/sai, câu hỏi ghép đôi và câu hỏi điền khuyết.
 a) Loại câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi nhiều lựa chọn có hai phần: phần dẫn và phần  lựa chọn. Phần dẫn là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn chỉnh); phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay 5) câu trả lời cho câu hỏi hay câu bổ sung cho câu bỏ lửng ở phần dẫn để học sinh lựa chọn.
Phần dẫn, dù là câu hỏi hay câu bỏ lửng, phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho học sinh có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp.
Phần lựa chọn gồm nhiều lối giải đáp có thể lựa chọn trong đó có một phương án lựa chọn dự định cho là đúng hay đúng nhất, còn những câu còn lại các phương án nhiễu. Điều quan trọng là làm sao các phương án nhiễu ấy đều hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa học kĩ hay chưa hiểu kĩ bài học.
Khi viết câu hỏi nhiều lựa chọn, cần lưu ý:
(1) Tránh dùng các từ ngữ mang tính chất phủ định như “ngoại trừ”, “không”,… nếu thì phải làm nổi bật chúng bằng cách in nghiêng, in đậm hoặc gạch chân.
(2) Phần lựa chọn gồm 4 hoặc 5 phương án, trong đó chỉ có một phương án đúng hoặc đúng nhất. Trong trường hợp chỉ có một phương án đúng, các phương án nhiễu phải sai và được thiết kế dựa trên những lỗi thông thường mà học sinh hay mắc phải. Trường hợp thứ hai, chỉ có một phương án đúng nhất thì các phương án nhiễu cũng phải đúng nhưng không đầy đủ. Các phương án lựa chọn phải có độ dài tương xứng bởi một phương án dài hơn hoặc ngắn hơn có thể thu hút sự chú ý của học sinh.
(3) Phần dẫn và phần lựa chọn phải tương thích về mặt từ ngữ, ngữ pháp. Nếu phần dẫn là một câu hỏi thì phần lựa chọn là câu trả lời dạng rút gọn (viết hoa chữ cái đầu); nếu phần dẫn là câu nói chưa hoàn chỉnh thì phần lựa chọn phải là phần ghép lại để được câu hoàn chỉnh (không viết hoa chữ cái đầu). Các ký hiệu dùng để chỉ các phương án lựa chọn không nên trùng với các kí hiệu đã dùng trong phần dẫn nhằm tránh nhầm lẫn cho học sinh.
(4) Không nên viết câu hỏi mà đáp án của câu này lại phụ thuộc vào đáp án của các câu hỏi trước.
(5) Các phương án đúng cần được sắp xếp một cách ngẫu nhiên.
Chẳng hạn, ta xét ví dụ:
soan cau hoi trac nghiem mon toan kho nhat trai dat, cach soan de trac nghiem toan 2017

- Chuẩn đánh giá: Hiểu cách xác định hiệu hai vectơ
- Phương án đúng là IV
- Các phương án nhiễu được thiết kế như sau: phương án I học sinh nhầm với phép cộng, trừ các số thông thường; phương án II học sinh nhầm với phép cộng, trừ các số thông thường và nhầm lẫn giữa kí hiệu độ dài vectơ với dấu giá trị tuyệt đối; phương án III học sinh nhầm tổng hai vectơ với tổng độ dài của hai đoạn thẳng
Bạn đã xem chưa: 626 câu hỏi trắc nghiệm hình học lớp 11, 12 môn toán phần không gian và mặt phẳng
b) Loại câu hỏi đúng/sai
Đây là dạng đặc biệt của câu hỏi nhiều lựa chọn, được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn đúng hay sai.
Khi viết câu hỏi đúng/sai, cần lưu ý:
(1) Mỗi câu phát biểu cần phải có tính đúng/ sai chắc chắn, không tuỳ thuộc vào quan niệm riêng của từng người.
(2) Lựa chọn một câu phát biểu nào mà học sinh có khả năng trung bình khó nhận ra ngay là đúng hay sai nếu không suy nghĩ chín chắn. Không nên trích nguyên văn những câu trong sách giáo khoa, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học sinh học thuộc lòng một cách máy móc.
(3) Mỗi câu chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu phức tạp có quá nhiều chi tiết.
Loại câu hỏi đúng/sai dễ sử dụng nhưng hạn chế sử dụng bởi:
(1) Xác suất may rủi lớn: 0,5
(2) Có những câu phát biểu thoạt tiên trông có vẻ như là đúng hoặc sai dưới con mắt người soạn trắc nghiệm, nhưng khi đem ra sử dụng thì lại gặp những thắc mắc nhiều khi rất chính đáng của học sinh do lời văn, lối dùng từ không chính xác hay thiếu một số thông tin căn bản khả dĩ giúp học sinh quyết đoán tính đúng hay sai.
(3) Việc sử dụng những câu phát biểu sai mà lại được trình bày như là đúng, có thể gây hiệu quả tiêu cực đối với học sinh, khiến cho các em có khuynh hướng tin và nhớ những câu phát biểu sai.
Ví dụ
Mỗi mệnh đề sau đúng hay sai?
            Mệnh đề
huong dan viet cau trac nghiem toan kho
Chuẩn đánh giá: Hiểu khái niệm vectơ, hiểu quy tắc ba điểm, quy tắc ba trừ.
Đáp án: a) Sai.        b) Sai.        c) Đúng.
Câu a) kiểm tra định nghĩa vectơ, học sinh không hiểu định nghĩa vectơ thường chọn đáp án sai vì suy nghĩ vectơ giống như đoạn thẳng và hai đoạn thẳng AB = BA.
Câu b) kiểm tra kiến thức của học sinh về tính chất trung điểm của đoạn thẳng AB, học sinh không nhớ tính chất này hoặc không hiểu phương pháp tìm tổng hai vectơ sẽ chọn đáp án đúng.
Câu c) kiểm tra quy tắc trừ, học sinh không nhận ra quy tắc trừ sẽ chọn đáp án sai vì hiệu của hai vectơ không thể là vectơ có độ dài lớn hơn hai vectơ đã cho.
c) Loại câu ghép đôi
Loại câu ghép đôi cũng là một dạng đặc biệt của câu hỏi nhiều lựa chọn: mỗi ý ở cột trái được nối với duy nhất một ý ở cột phải để được một khẳng định đúng, như vậy các phần dẫn khác nhau ở cột trái có cùng chung phần lựa  chọn ở cột phải.
Do đó thiết kế câu hỏi ghép đôi tương đối khó bởi mỗi phương án phần lựa chọn có thể là đáp án của phần dẫn này, nhưng lại là nhiễu của phần dẫn khác.
Khi biên soạn  câu hỏi dạng ghép đôi cần lưu ý:
(1) Số lựa chọn ở cột phải phải nhiều hơn số câu hỏi ở cột trái để tránh tình trạng khi ghép đến cặp cuối cùng thì học sinh không phải suy nghĩ gì cũng ghép được.
(2) Có thể xảy ra trường hợp một phương án lựa chọn ở cột phải ứng với nhiều hơn một phần dẫn ở cột trái.
(3) Số lượng phần dẫn ở cột trái cũng như số lượng phần lựa chọn ở cột phải không nên quá nhiều khiến cho học sinh mất nhiều thời gian đọc và lựa chọn.
Ví dụ:
cach soan cau hoi trac nghiem mon toan tuyet cu meo
Kết quả:
Chuẩn ĐG: Hiểu cách tính chất của phép cộng vectơ, định nghĩa hiệu hai vectơ.
Với câu a: phương án đúng là IV, các phương án nhiễu được thiết kế dựa trên các sai lầm của học sinh về hiệu của hai vectơ.
Với câu b: phương án đúng là II, các phương án nhiễu được thiết kế dựa trên các tính chất cuả tổng hai vectơ.
Với câu c: phương án đúng là I, các phương án nhiễu được thiết kế dựa trên các tính chất cuả tổng hai vectơ.
Câu hỏi này có số lựa chọn ở cột bên phải nhiều hơn số phần dẫn ở cột trái. Ở cột trái và cột phải số lượng của phần dẫn và phần lựa chọn không quá nhiều. Nếu không hiểu bài học sinh không làm đúng.
d) Loại câu điền khuyết
Câu điền khuyết có thể có hai dạng: có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống mà học sinh phải điền vào một từ, cụm từ, kí hiệu, giá trị,… thích hợp.
Đối với  câu trắc nghiệm này, cần lưu ý:
(1) Chỉ nên để một chỗ trống.
(2) Đáp án phải ngắn, đơn trị (tức chỉ có một đáp án đúng).
hướng dẫn soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán
Câu hỏi này thỏa mãn cả hai yêu cầu trên vì chỉ có một chỗ trống để học sinh điền vào đồng thời kết quả bài toán là đơn trị (chỉ có kết quả đúng là 5).
Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan có một số ưu và nhược điểm cơ bản sau:
Ưu điểm
- Thời gian trả lời cho mỗi câu hỏi ngắn nên có thể kiểm tra trên diện rộng, nhiều kiến thức.
- Đánh giá được khả năng nhớ, hiểu, vận dụng đơn giản kiến thức.
- Góp phần rèn luyện các kĩ năng: dự đoán, ước lượng, lựa chọn phương án giải quyết…
- Thuận lợi cho học sinh có kinh nghiệm làm bài trắc nghiệm và với học sinh yếu về khả năng diễn đạt, trình bày.
- Chấm điểm nhanh và khách quan.
- Phản hồi nhanh về kết quả học tập của học sinh, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh hoạt động dạy-học một cách kịp thời.
- Các câu hỏi trắc nghiệm khách quan đều có cấu trúc rõ ràng giúp học sinh dễ làm quen.
- Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá khi được giáo viên công bố đáp án và thang điểm.
Nhược điểm
- Khó thiết kế được những câu hỏi đánh giá cấp độ tư duy cao như phân tích, tổng hợp, tư duy trừu tượng,…
- Dễ xảy ra sai số hệ thống (lựa chọn cảm tính; quay cóp; đoán mò…).
- Khó đánh giá được con đường tư duy, suy luận, kĩ năng viết và sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu khoa học,… của học sinh.
- Khó tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Biên soạn đề kiểm tra khó, tốn nhiều thời gian,
- Tốn giấy và đòi hỏi các phương tiện hiện đại như: máy in, máy photocopy,…
Xem thêm:
Sự phân tích trên cho thấy: câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán hay các môn khác đều có những ưu điểm bù đắp được cho những nhược điểm của hình thức trắc nghiệm tự luận. Chẳng hạn, trắc nghiệm tự luận chỉ có thể kiểm tra kiến thức trong một phạm vi hẹp, còn trắc nghiệm khách quan cho phép kiểm tra trên diện kiến thức rộng hơn; ra đề trắc nghiệm tự luận thì dễ nhưng chấm bài vừa mất nhiều thời gian, vừa khó khách quan, khó chính xác, trong khi đó chấm bài trắc nghiệm khách quan thì dễ dàng và chính xác; nhìn vào cách trình bày bài giải của câu hỏi trắc nghiệm tự luận cho phép đánh giá được quá trình tìm tòi, suy nghĩ và khả năng trình bày lời giải, sử dụng kí hiệu, ngôn ngữ,… của học sinh, đồng thời phát hiện dễ dàng những điểm hạn chế trong quá trình tư duy, kĩ năng của học sinh. Ngược lại, hình thức trắc nghiệm khách quan chỉ giúp ta nhìn thấy kết quả của hoạt động tư duy của học sinh (thông qua chọn câu trả lời) mà không thấy quá trình tư duy đó;…
Vì vậy, để đảm bảo đánh giá được toàn diện kết quả nhận thức của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì hoặc một năm và đảm bảo độ chính xác, tin cậy của kết quả đánh giá thì cần sử dụng cả hai hình thức kiểm tra này nhằm phát huy được ưu điểm và hạn chế của mỗi loại.
3. Kết thúc vấn đề bàn về cách soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán
Đối với bộ môn Toán thì hình thức kiểm tra viết được sử dụng nhiều nhất. Trong đó, việc biên soạn bộ công cụ đánh giá (các đề kiểm tra) có vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá nhằm đánh giá một cách chính xác, khách quan, công bằng, có độ tin cậy cao…
Để có được bộ công cụ đảm bảo thu thập thông tin chính xác, khoa học, chúng ta nên sử dụng cả hai loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Cách soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán Reviewed by Tân Phúc on 04:25:00 Rating: 5 Muốn xưng hùng thì ít nhất phải biết chút ít võ công, muốn đi dạy thì phải học nghề, đại loại như thế. Ghé qua mấy Fanpage về chủ đề soạn đ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.