728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán hiện nay

Cũng lâu rồi VietMaths cũng chưa có bài gì mới, hôm nay trở lại bàn một chút về thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá  kết quả học tập môn toán hiện nay ở nước ta, có lẽ nó sẽ giúp chút ít cho bạn đọc.
Nhân tiện giới thiệu các vấn đề liên quan trắc nghiệm:
a. Nhận thức của giáo viên về chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình
Về chuẩn kiến thức: mặc dù đã quy định trong chương trình môn học và được nhắc lại ở sách giáo viên, nhưng nhiều giáo viên còn nhận thức mơ hồ, chưa định hình rõ kiến thức tối thiểu học sinh cần đạt trong tiết dạy.
Nhiều giáo viên có xu hướng dạy hết tất cả nội dung kiến thức trong sách giáo khoa, trong đó có nhiều nội dung nâng cao dành cho những học sinh khá, giỏi. Điều này mâu thuẩn với những quy định về chuẩn kiến thức của chương trình. Vì chuẩn kiến thức của chương trình là những yêu cầu kiến thức tối thiểu dành cho mọi học sinh, đặc biệt là các em học sinh yếu, kém, trung bình. Khi tập trung những nội dung nâng cao sẽ dẫn đến kết quả là giáo viên thiếu thời gian luyện tập các kiến thức cơ bản cho học sinh. Điều này dẫn đến học sinh trung bình, yếu, kém không tiếp thu được vì nội dung nhiều và khó so với khả năng của các em.
Thực trạng về đánh giá  kết quả học tập môn toán hiện nay trong nước
Tuy nhiên, khi kiểm tra cuối chương, cuối kì, giáo viên có thể đặt ra các yêu cầu cao hơn so với chuẩn kiến thức và kỹ năng được quy định trong chương trình.
Ví dụ
Ở bài “Tích của vectơ với một số” yêu cầu của chuẩn kiến thức là:
- Hiểu được phép nhân vectơ với một số; các tính chất của phép nhân vectơ với một số.
- Biết được điều kiện để hai vectơ cùng phương; tính chất trung điểm, tính chất trọng tâm.
Trong thực tế, giáo viên thường lướt nhanh qua các kiến thức: định nghĩa, tính chất, điều kiện để hai vectơ cùng phương. Còn lại, thông thường giáo viên nhấn mạnh đến việc phân tích một vectơ thành hai vectơ không cùng phương, mà đây lại không phải là yêu cầu của chuẩn.
Do kiến thức của phần phân tích một vectơ thành hai vectơ khá khó, đòi hỏi học sinh phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để giải quyết nên những học sinh yếu, kém, trung bình thường không theo kịp.
Về chuẩn kĩ năng: ở mỗi tiết dạy, giáo viên mất nhiều thời gian để truyền đạt lí thuyết, chưa chú ý đến việc dành thời lượng thích hợp để rèn luyện kĩ năng cho học sinh. Theo yêu cầu của chuẩn, giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng cơ bản. Song giáo viên lại thường dành thời gian giải tất cả các bài tập có trong sách giáo khoa, sách bài tập. Cá biệt, có trường hợp do không đủ thời gian cho học sinh rèn luyện kĩ năng giải bài tập, giáo viên giảng giải luôn cho học sinh ghi chép một cách thụ động nhằm tiết kiệm thời gian. Mặt khác, giáo viên luôn có xu hướng rèn luyện cho học sinh luyện giải các bài tập khó (dành cho đối tượng học sinh giỏi) - những bài tập này đòi hỏi các kĩ năng, tư duy bậc cao, do đó ít thời gian rèn luyện kĩ năng tối thiểu mà chuẩn đã yêu cầu.
Điều đó cho thấy rằng khi giáo viên chưa nắm rõ các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình thì việc rèn luyện kĩ năng làm bài của học sinh còn quá ít và học sinh không chủ động, tích cực trong học tập.
Ví dụ
Trong bài “Tổng và hiệu hai vectơ”, yêu cầu về kĩ năng là:
    (1) Vận dụng được quy tắc ba điểm, quy tắc hình bình hành khi lấy tổng hai vectơ cho trước.
    (2) Vận dụng được quy tắc trừ vào chứng minh đẳng thức vectơ.
Tuy nhiên, bài tập trong sách giáo khoa ít, có 3 bài tập dành cho kĩ năng (1); 8 bài tập dành cho kĩ năng (2). Thông qua đó, giáo viên rèn luyện kĩ năng (2) nhiều hơn. Điều này làm cho học sinh có quan niệm rằng trong bài học này chỉ áp dụng vào việc chứng minh hai đẳng thức vectơ, còn kĩ năng xác định vectơ tổng của hai vectơ là không cần thiết.
Xem thêm: Đề thi thử toán dạng trắc nghiệm 2017 kiểu mới của Báo Toán học Tuổi trẻ số 473
b. Thực trạng biên soạn đề kiểm tra hiện nay
- Mục đích của đề kiểm tra ở trường THPT hiện nay thường là thu thập chứng cứ thành công về những kiến thức, kĩ năng mà đa số học sinh nắm vững, nhưng chưa thực sự quan tâm đến việc thu thập chứng cứ cho việc đạt chuẩn chương trình hay không.
- Cấu trúc của đề kiểm tra:
+ Các đề kiểm tra thường cho nhiều điểm ở mức độ thông hiểu và vận dụng, rất ít điểm dành cho mức độ nhận biết.
+ Các câu hỏi trong đề kiểm tra thông thường xoay quanh các kĩ năng mà học sinh nắm vững hay giáo viên tâm đắc, còn các yêu cầu khác về kiến thức, kĩ năng của chuẩn chương trình không được quan tâm nhiều.
+ Các câu hỏi được cho theo cả hai hình thức : TNTL và TNKQ, trọng số điểm của hai hình thức thông thường là 7:3 hay 6:4 hoặc 5:5.
- Kĩ thuật viết câu hỏi:
+ Từ trước, các câu hỏi TNTL tập trung vào một vài vấn đề trọng tâm, vì thế học sinh thường đoán mò và học tủ một số vấn đề chính. Các câu hỏi thường ở mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng ở tình huống đơn giản. Do đó, học sinh thường đạt điểm số cao, mức chênh lệch không nhiều, dẫn đến khó phân biệt được học sinh có năng lực thấp và năng lực cao. Học sinh khá, giỏi có thể hoàn thành một cách dễ dàng, không đòi hỏi phải tư duy nhiều. Từ đó, chỉ làm theo khuôn mẫu giáo viên đã truyền đạt.
+ Thời gian gần đây, giáo viên bắt đầu quan tâm đến những câu hỏi TNKQ nhưng chưa chú ý đúng mức. Việc soạn thảo, phân tích câu hỏi chưa đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật, do đó các bài kiểm tra thường là những câu hỏi đơn giản, dẫn đến học sinh làm bài một cách thụ động, chỉ cần ghi nhớ một cách máy móc những công thức, định lí trong sách giáo khoa là có thể làm được bài. Hay một số trường hợp khác, một câu hỏi TNKQ là một bài tập nhỏ, học sinh phải qua nhiều bước là mới cho ra kết quả. Từ đó dẫn đến học sinh không đủ thời gian làm các câu còn lại, dẫn đến hiện tượng chọn hú họa, không suy nghĩ.
- Thang chấm điểm:
+ Các câu hỏi dạng TNTL giáo viên thường cho điểm cho cả câu, còn các chi tiết thì cho điểm tùy vào nội dung bài làm của học sinh và tâm trạng của giáo viên khi chấm. Chẳng hạn, nếu điểm số của cả lớp tương đối thấp thì học sinh chỉ viết đúng công thức cũng có thể đạt phân nửa điểm số của câu hỏi đó. Còn điểm số của cả lớp tương đối cao thì điểm số của phần viết công thức này sẽ ít lại. Điều này dẫn đến tính thiếu khách quan khi đánh giá kết quả học tập của học sinh.
+ Một số ít giáo viên khi biên soạn đề kiểm tra ở phân môn hình học thường ra đề theo kiểu “bắt cầu”, nghĩa là lấy kết quả phần a để làm phần b, hoặc lấy kết quả phần b giải phần c,... Điều này bất lợi với những học sinh không làm được phần a.
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng cách biên soạn đề kiểm tra và cách chấm điểm như thế sẽ không đánh giá đúng mức kết quả đạt chuẩn chương trình cũng như kết quả học tập của học sinh.

Tham khảo:
1. Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc (1995), Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông, Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước.
2. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), Đánh giá và đo lường kết quả học tập, NXB Đại học Sư phạm.
3. Dương Thiệu Tống (1995), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, NXB trường đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

Bạn cần nghiên cứu: Cách soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn toán
Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán hiện nay Reviewed by Tân Phúc on 03:31:00 Rating: 5 Cũng lâu rồi VietMaths cũng chưa có bài gì mới, hôm nay trở lại bàn một chút về thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá  kết quả học tập ...

1 nhận xét:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.