728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Vai trò của nghiên cứu bài học đối với sự phát triển NVSP của giáo viên và việc học của học sinh

Mấy kỳ trước, chúng ta đã cùng nhau bàn luận đến NCBH, nhiều giáo viên đã tỏ ra rất quan tâm vì nó giúp ích rất nhiều cho việc dạy của họ. Kỳ này, mình xin tiếp tục bàn đến vai trò của nghiên cứu bài học đối với sự phát triển NVSP của giáo viên và  việc học sinh. 

 
Ngày nay, NCBH được xem như là một phương tiện đổi mới các thực hành dạy học có tác động tích cực đến vấn đề nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho GV và phát triển tư duy cho HS.
1. Vai trò của nghiên cứu bài học đối với việc phát triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
Trong những năm qua NCBH thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục là nhờ tác dụng tích cực của nó đối với việc phát triển nghiệp vụ sư phạm cho GV. Khi tham gia vào quy trình NCBH, GV có điều kiện khám phá xa hơn những kiến thức về phương pháp lẫn nội dung môn học. Vì thế GV ở Nhật yêu thích và xem NCBH  là một phần tất yếu trong nghề nghiệp chuyên môn của mình. Họ mong muốn tham gia vào các hoạt động này trong suốt sự nghiệp của mình và có nhiều đóng góp khi bản thân có kinh nghiệm hoặc đảm trách những vị trí cao hơn trong nhà trường [1].
NCBH thúc đẩy GV đào sâu hiểu biết của mình về các kiến thức nội dung môn học đặc biệt là những kiến thức mới được đưa vào chương trình. Không phải GV nào cũng hiểu được dụng ý của các nhà biên soạn sách giáo khoa khi họ quyết định đưa một nội dung nào đó vào trong chương trình. Nhưng thông qua hoạt động NCBH, GV có thể biết được ý tưởng của các đồng nghiệp khi họ cùng nhau tìm kiếm để chỉ ra những kiến thức quan trọng mà HS cần phải lĩnh hội trong nội dung này. Nhóm nghiên cứu có thể mời các nhà giáo dục hoặc giáo sư ở một số trường đại học đến quan sát bài học và giải thích cho GV những điều mà họ chưa rõ. Nói một cách khác, bài học được nghiên cứu cung cấp cho GV cơ hội để xác định những kiến thức nào là quan trọng trong mỗi bài học cũng như tạo ra môi trường làm việc tích cực giúp GV phát hiện và khắc phục những lỗ hổng trong kiến thức của mình, tìm kiếm và đào sâu hiểu biết của chính mình về môn học.
NCBH cung cấp cho GV cơ hội để xem xét việc dạy và học trong một lớp cụ thể. Bằng cách quan sát trực tiếp thực hành dạy học trong một lớp thật sự, GV có thể phát triển một hiểu biết chung hoặc hình dung về thực hành dạy học hiệu quả. Một GV đã nói rằng “Thật khó để tích hợp những ý tưởng và tư liệu dạy học nếu như chúng ta không thấy chúng trông như thế nào. Trong NCBH chúng ta nhìn thấy những gì xảy ra khách quan hơn, giúp ta hiểu được các ý tưởng quan trọng của bài học mà không phụ thuộc nhiều đến những lớp học cụ thể” [2].
NCBH giữ HS ở vị trí trung tâm trong hoạt động phát triển nghiệp vụ sư phạm. GV có cơ hội kiểm tra một cách cẩn thận quá trình học tập của HS bằng cách quan sát và thảo luận những vấn đề trong bài học được nghiên cứu. Cơ hội này nâng cao vai trò của các GV như những nhà nghiên cứu về việc dạy và học trong lớp của mình. Họ đưa ra giả thuyết về việc dạy học và thu thập dữ liệu về tính đúng đắn của nó khi quan sát trực tiếp các thực hành dạy học để đưa ra được những phương pháp dạy học phù hợp góp phần cải tiến chất lượng giáo dục.
NCBH cũng thúc đẩy và duy trì sự hợp tác giữa các GV. Việc hợp tác này đã thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên trong nhóm nghiên cứu và phát triển một hiểu biết chung về phương pháp cải tiến những thực hành dạy học trong lớp một cách có hệ thống và phù hợp. Hơn nữa, ở một số nền giáo dục tiên tiến, người ta còn quan niệm rằng GV đứng lớp không cần phải nói nhiều về những quan điểm và ý tưởng của mình mà phải học cách lắng nghe điều đó từ các đồng nghiệp và HS của mình. Khi áp dụng mô hình NCBH trong các thực hành dạy học của mình, GV có cơ hội chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm dạy học cũng như các kiến thức sư phạm lẫn nội dung môn học. Điều này đã mang lại nhiều ích lợi cho GV đặc biệt là GV trẻ nên họ càng hứng thú và nhiệt tình tham gia vào hoạt động NCBH [3].
Các nhà giáo dục còn xem NCBH là một hình thức phát triển nghiệp vụ sư phạm lâu dài được định hướng bởi GV. GV là người quyết định cái gì là đổi mới trong nội dung và phương pháp dạy học ở lớp học của mình. Họ thực hiện các hoạt động NCBH nhằm tìm kiếm những thực hành dạy học hiệu quả để phát triển nghiệp vụ sư phạm cho chính mình chứ không tuân theo một cách máy móc những gì đã được học trong các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm được tổ chức định kì trong mỗi năm học. Vì thế một số nhà nghiên cứu giáo dục xem NCBH là hoạt động phát triển nghiệp vụ sư phạm cho GV đối lập với phương pháp truyền thống mà khá nhiều nước đang sử dụng. Sự đối lập này được thể hiện ở bảng tổng kết sau [4]

Vai trò của nghiên cứu bài học đối với  giáo viên và học sinh, vai tro cua nghien cuu bai hoc trong day hoc
NCBH còn được xem là một tiếp cận toàn diện hơn về việc phát triển nghiệp vụ sư phạm nhằm giúp GV phát triển những cách thức [5]
-    Suy nghĩ về các thực hành dạy học trong lớp của mình;
-    Lên kế hoạch bài học, quan sát cách HS học tập, thực hiện các hoạt động và tư duy, phản ánh và thảo luận về việc dạy học;
-    Xác định những kiến thức và kĩ năng cần thiết để cải tiến các thực hành dạy học của mình và tìm kiếm những đổi mới trong phương pháp cho chính mình.

2. Vai trò của nghiên cứu bài học đối với việc học của học sinh
Người ta xem NCBH là phương tiện mang những tiêu chuẩn của giáo dục vào thực tiễn lớp học. Các GV thường bắt đầu hoạt động NCBH với câu hỏi “HS cần phải có những năng lực gì khi tốt nghiệp” hoặc làm thế nào để giúp “HS suy nghĩ giống như nhà khoa học”. Từ đó họ hướng chủ đề nghiên cứu của mình vào các mục đích dài hạn (yêu thích việc học, phát triển khả năng giải quyết vấn đề, phát triển tư duy sáng tạo...). Để giúp HS có được những năng lực mà xã hội yêu cầu nhóm nghiên cứu thường sử dụng một số tiếp cận dạy học có tính đổi mới như giải quyết vấn đề, khảo sát toán và câu hỏi kết thúc mở... trong các thực hành dạy học của mình. Khi HS học trong các lớp học này, các em sẽ “học cách học”, học một cách tích cực và chủ động chứ không phải là nhớ lại những gì đã được dạy nhờ đó mà khả năng giải quyết vấn đề và tư duy của các em sẽ được phát triển.
Có thể nói mục đích cuối cùng của mọi quá trình dạy học là tạo ra được những con người phát triển toàn diện cả về phẩm chất đạo đức lẫn năng lực tư duy. Vì thế khi soạn kế hoạch bài học, các thành viên trong nhóm thường xây dựng những nhiệm vụ học tập có chủ ý rèn luyện và phát triển một số loại hình tư duy cho HS trong mỗi bài học được nghiên cứu. Những nhiệm vụ học tập luôn được tạo ra một cách khéo léo nhằm kích thích sự tìm tòi, sáng tạo của HS. Khi tham gia giải quyết những nhiệm vụ học tập này, các em không những lĩnh hội được kiến thức nội dung môn học mà còn phát triển khả năng tư duy cho chính mình.
GV cũng luôn chú ý thiết kế những hoạt động học hợp tác nhằm tạo ra một môi trường học tập tích cực cho các em HS. Những hoạt động này không chỉ giúp HS khám phá và xây dựng kiến thức về môn học cho riêng mình mà còn giúp các em phát triển một số kĩ năng tổ chức, giao tiếp và diễn đạt. Đây là những thứ cần thiết cho các em trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống lao động sau này. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn đưa ra một số nhiệm vụ học tập chứa đựng những vấn đề liên quan đến kinh nghiệm sống hàng ngày của HS làm cho các em thấy được ý nghĩa của kiến thức được học và mối liên hệ của nó với thực tiễn. Từ đó các em sẽ thấy hứng thú và tích cực tham gia vào quá trình học tập.
Việc tích hợp mô hình NCBH vào quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy đã tạo ra sự chuyển biến tích cực từ việc dạy học lấy GV làm trung tâm sang việc dạy học lấy HS làm trung tâm. Nó tạo điều kiện cho GV khám phá các ý tưởng về việc dạy học nhằm khuyến khích khả năng giải quyết vấn đề và tư duy của HS. Có vẻ như NCBH đóng vai trò gốc rễ trong văn hoá giáo dục của Nhật, đang có tác động quan trọng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại ngày nay.

Tài liệu tham khảo
[1]. Masami Isoda, Max Stephens, Yutaka Ohara, Takeshi Miyakawa (2006), Japanese Lesson Study in Mathematics, Its Impact, Diversity and Potential  for Educational Improvement, World Scientific.
[2]. Akihiko Takahashi, Tad Watanabe, Makoto Yoshida (2006), “Developing good mathematics practice through Lesson Study: A U.S. perspective”, APEC-Tsukuba International Conference, Japan.
[3]. Makoto Yoshida (2003), “Overview of Lesson Study in Japan”, www.lessonstudy.com
[4]. Akihiko Takahashi (2006), “Implementing lesson study in North American schools and school districts”, APEC-Khon Kaen International Symposium, pages 22-32, Thailand.
[5]. 23.    Research for Better Schools (2007), “Frequently Asked Questions”, http://www.rbs.org/lesson_study/index.php
Vai trò của nghiên cứu bài học đối với sự phát triển NVSP của giáo viên và việc học của học sinh Reviewed by Tân Phúc on 11:43:00 Rating: 5 Mấy kỳ trước, chúng ta đã cùng nhau bàn luận đến NCBH, nhiều giáo viên đã tỏ ra rất quan tâm vì nó giúp ích rất nhiều cho việc dạy của họ. ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.