728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện nghiên cứu bài học

Trong chuỗi bài viết nghiên cứu về chủ đề nghiên cứu bài học, hôm nay chúng ta bàn đến vấn đề mà ai cũng quan tâm đó là nội dung trả lời cho câu hỏi: khi chúng ta thực hiện nghiên cứu bài học thì sẽ gặp phải những thuận lợi và khó khăn nào?
Tương tự như khi thực hiện những phương pháp dạy học có tính đổi mới khác, GV cũng gặp khá nhiều thuận lợi nhưng phải đối mặt với không ít khó khăn khi áp dụng mô hình NCBH trong các thực hành dạy học của mình để tìm kiếm những đổi mới trong phương pháp nhằm cải tiến nghiệp vụ sư phạm cho chính mình và phát triển tư duy cho HS. 
1. Những thuận lợi khi thực hiện nghiên cứu bài học
Ngày nay, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học diễn ra khá mạnh mẽ cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và các phương tiện dạy học đã tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định [1.] thúc đẩy GV áp dụng mô hình NCBH trong các thực hành dạy học của mình.
Một là, sự quan tâm ngày càng nhiều hơn của các nhà giáo dục, chuyên gia và GV về NCBH. Mặc dù NCBH xuất hiện khá sớm so với các lý thuyết và thực hành dạy học tiên tiến khác nhưng phải đến những thập niên gần đây các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới mới quan tâm nhiều hơn đến những hoạt động này bởi thành tựu nổi bật trong việc cải tiến chất lượng dạy học mà nó mang lại. Họ sử dụng NCBH để tìm kiếm những thực hành dạy học hiệu quả góp phần đổi mới việc dạy và học nhằm đáp ứng xu thế toàn cầu hoá của việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Hai là, sự phát triển nhanh chóng của các công cụ phục vụ cho NCBH. Đã có nhiều trang web cung cấp các thông tin cùng với những tư liệu phim ảnh và ấn phẩm sách báo về NCBH như 
và còn rất nhiều nữa. Những trang web này chứa đựng nguồn tư liệu phong phú và bổ ích cho những GV muốn tìm hiểu để áp dụng mô hình NCBH trong các thực hành dạy học của mình.
Ba là, sự hiểu biết ngày càng sâu sắc của các nhà nghiên cứu giáo dục về NCBH. Khi Yoshida mang ý tưởng NCBH đến Mỹ trong công trình nghiên cứu của mình, nhiều người cho rằng nó đơn giản và dễ thực hiện. Họ dường như nghĩ rằng NCBH chỉ đóng vai trò như một phương tiện để cải tiến các kế hoạch bài học. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu giáo dục sớm nhận ra rằng họ đã đánh giá không đúng về bản chất của mô hình NCBH cũng như những tác dụng to lớn của nó đối với việc nâng cao chất lượng dạy học. NCBH không phải là một hoạt động đơn giản mà nó là quy trình bao gồm nhiều hoạt động như xác định chủ đề nghiên cứu, lên kế hoạch bài học, dạy, quan sát, thảo luận... Tất cả những hoạt động này được tiến hành trong nỗ lực hợp tác của các thành viên trong nhóm nghiên cứu để tìm kiếm những thực hành dạy học hiệu quả góp phần phát triển nghiệp vụ sư phạm cho GV và tư duy cho HS chứ không đơn thuần chỉ nhằm mục đích cải tiến kế hoạch bài học.
Bốn là, những bằng chứng ban đầu về hiệu quả của NCBH. Khi NCBH được áp dụng bên ngoài nền giáo dục của Nhật nhiều người cho rằng “NCBH là một mô hình dạy học có tính đổi mới nhưng sẽ không mang hiệu quả vì hầu như ở nhiều nước các GV chưa có thói quen làm việc hợp tác với đồng nghiệp” và “NCBH thành công ở Nhật bởi vì GV ở đó biết nhiều về toán nhưng điều này lại không đúng ở một số nước” [2.]. Tuy nhiên kết quả của các dự án NCBH ở nhiều nước đã làm cho những nhà nghiên cứu giáo dục phải thay đổi nhận định ban đầu của mình. Họ thừa nhận NCBH đã và đang mang lại những thực hành dạy học hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở bậc phổ thông cũng như ở bậc đại học.
2. Những khó khăn khi thực hiện nghiên cứu bài học
Mặc dù NCBH là một mô hình dạy học có tính đổi mới và được thực hiện ở khá nhiều nước nhưng GV cũng phải đối mặt với không ít khó khăn khi cố gắng áp dụng mô hình này trong các thực hành dạy học của mình.
Một là, sự hạn chế về thời gian và kinh phí. NCBH đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Ở Nhật các buổi thảo luận về bài học được nghiên cứu thường được tổ chức ngoài giờ hành chính bằng ngân sách của nhà trường. Các GV được nhận thù lao tương xứng với công sức mà họ đã bỏ ra khi tham gia vào các hoạt động NCBH. Ngược lại một số trường ở Mỹ đã ghép các hoạt động này vào những ngày làm việc trong tuần hoặc trả thù lao khiêm tốn cho GV làm việc ngoài giờ [2.]. Trong khi đó ở một số nước, hoạt động NCBH thường được tiến hành bằng sự tự nguyện của các thành viên trong nhóm nghiên cứu mà không nhận được sự ủng hộ về tài chính của nhà trường hoặc các tổ chức giáo dục. Các GV ở đây tình nguyện dành thời gian và công sức để áp dụng mô hình NCBH trong các thực hành dạy học nhằm tìm kiếm những đổi mới về phương pháp cũng như phát triển nghiệp vụ sư phạm cho chính mình. Bên cạnh đó, những hoạt động thường niên ở trường cùng với các đợt kiểm tra thi cử cũng chiếm khá nhiều thời gian của GV khiến họ không có nhiều thời giờ dành cho hoạt động NCBH. 

thuan loi va kho khan khi thuc hien nghien cuu bai hoc

Hai là, sự quá tải của chương trình. NCBH thành công ở Nhật một phần là nhờ vào nỗ lực làm việc hợp tác của GV cùng với sự uyên bác của họ về kiến thức môn học nhưng phần khác là nhờ vào chương trình vừa phải [2.]. Nhưng ở nhiều nước sự quá tải về chương trình làm cho các GV không có đủ điều kiện thời gian để thực hiện NCBH. Mặt khác, khi tiến hành NCBH GV không những phải quan tâm đến việc dạy cái gì mà còn phải suy nghĩ đến việc dạy như thế nào để khuyến khích tư duy của HS. Điều này đòi hỏi GV phải bỏ nhiều công sức để soạn được kế hoạch bài học phù hợp cho một bài học được nghiên cứu. Không ít GV đã e ngại rằng khi thực hiện NCBH họ phải mất rất nhiều thời gian để thực hiện một bài học thì làm sao có thể hoàn thành kế hoạch giảng dạy trong năm học với thời lượng chương trình đã được quy định.    
Ba là, việc tự phê bình và phê bình. Một ý tưởng cơ bản đằng sau NCBH là việc dạy học phải luôn được cải tiến thông qua hoạt động tự phê bình và phê bình của các thành viên trong nhóm về các thực hành dạy học của mình. Ở Nhật, ngay cả những GV nổi tiếng cũng mong nhận được ý kiến đóng góp từ các nhà nghiên cứu cùng với đồng nghiệp về việc dạy học của mình. Nhưng ở nhiều nước khác, GV vẫn chưa quen với việc tự phê bình và phê bình. Những quan sát về các thực hành dạy học ở đây thường được dùng để đánh giá GV khiến họ che giấu những điều mà mình thấy chưa chắc chắn hoặc không biết. Còn trong lúc thảo luận họ được khuyến khích tham gia vào “buổi nói chuyện vui vẻ” hơn là mang đến những thông tin phản hồi xác thực về việc dạy học của mình [2.].
Bốn là, thói quen làm việc hợp tác giữa các GV. Người Nhật có truyền thống làm việc hợp tác, họ cho rằng nhiều người cùng suy nghĩ thì sẽ tốt hơn một người. GV ở Nhật thường mượn tư liệu giảng dạy từ các đồng nghiệp để tham khảo nhằm cải tiến việc dạy học của mình. Họ tin rằng HS của mình sẽ được lợi từ nguyên tắc kế thừa trong nhà trường. Một GV đã nói rằng “làm thế nào để biết được cái gì là thích hợp nhất để dạy cho “HS suy nghĩ giống như một nhà khoa học” nếu điều đó không được đánh giá bởi GV của năm học tiếp theo”. Họ giải thích thái độ của mình về thói quen làm việc hợp tác “nếu GV cố gắng đạt được những điều mới mẻ quá sớm trong sự nghiệp của mình thì có khả năng họ sẽ gặp thất bại, ban đầu GV trẻ cần phải học hỏi từ những đồng nghiệp có kinh nghiệm thì họ sẽ tìm được một phương pháp dạy học phù hợp với chính mình” hoặc “nếu GV không cố gắng cải tiến nghiệp vụ sư phạm cho chính mình, không thảo luận và chia sẻ những ý tưởng dạy học của mình với các đồng nghiệp mà chỉ làm bất cứ điều gì mình muốn thì sẽ khó mà dạy hay được ngay cả với kế hoạch bài học và sách giáo khoa đủ tốt” [2.]. Tuy nhiên, GV ở khá nhiều nước vẫn chưa quen với cách làm việc hợp tác trong giảng dạy. Mỗi người tự tìm kiếm cho mình những ý tưởng dạy học và phương pháp truyền đạt mà họ cảm thấy phù hợp với chính mình. Vẫn có những tiết dạy thao giảng ở cấp bộ môn, cấp trường hoặc cấp sở nhưng nhằm mục đích đánh giá trình độ của GV là chính chứ không phải để cùng nhau chia sẻ những kết quả hay giải quyết các bất cập trong việc giảng dạy.
Năm là, niềm tin của GV. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng GV gặp phải khó khăn khi mở rộng kiến thức sư phạm cho chính mình. Mặc dù họ đã tham dự nhiều hội nghị và nghe nhiều nhà nghiên cứu báo cáo kết quả của các dự án NCBH nhưng họ vẫn nghi ngờ về tính hiệu quả của nó. Dù có nhiệt tình áp dụng tiếp cận này trong các lớp học của mình nhưng trong thực tế GV vẫn thực hành những gì tương tự với cách dạy học quen thuộc trước đây. Điều này không làm cho các nhà giáo dục ngạc nhiên bởi vì kiến thức của GV có nguồn gốc sâu xa từ những kinh nghiệm của bản thân họ với vai trò là người học. Rất khó khi chúng ta mong đợi một GV có kinh nghiệm trong dạy học thay đổi cách dạy học của mình [3.]. Mặt khác, không ít GV lại tin rằng kết quả học tập của HS vẫn có thể đạt được bằng cách dùng cách dạy học truyền thống mà không cần phải áp dụng NCBH.
Mặc dù gặp không ít khó khăn nhưng ngày nay NCBH vẫn là mô hình dạy học được các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu. Họ tin rằng áp dụng NCBH trong các thực hành dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng của việc dạy học nói riêng cũng như chất lượng giáo dục nói chung.


Tài liệu tham khảo: 
1. Catherine Lewis (2006), “Professional development through lesson study: Progress and Challenges in the U.S”, APEC-Tsukuba International Conference, Japan.
2. Catherine Lewis (2001), “Lesson Study: Teacher-led improvement of instruction”, http://www.humboldt.edu/~jww12/LESSON%20STUDY-TEACHER-LED%20IMPROVEMENT%20OF%20INSTRUCTION.htm
3. Trần Vui (2007), “Tích hợp quy trình NCBH với mô hình vận dụng phản ánh để phát triển nghiệp vụ của giáo viên toán”, Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường đại học Sư phạm Huế, ISSN 1859-1612 02(02), trang 99-105.
Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện nghiên cứu bài học Reviewed by Tân Phúc on 05:11:00 Rating: 5 Trong chuỗi bài viết nghiên cứu về chủ đề nghiên cứu bài học, hôm nay chúng ta bàn đến vấn đề mà ai cũng quan tâm đó là nội dung trả lời ch...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.