728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Thế nào là Học hợp tác? Lịch sử vấn đề và các yếu tố cơ bản

Học hợp tác đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục trên thế giới và được áp dụng thành công ở các nước như Mỹ, Nhật, Anh...


1. Bước vào thời đại học hợp tác

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin, con người ở khắp mọi nơi trên thế giới không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính vẫn có thể cùng nhau học tập, nghiên cứu dù ở cách xa nhau hàng ngàn cây số. Thế kỉ 21 là kỉ nguyên của tri thức, của sự hợp tác, liên kết. Sự phát triển của mỗi quốc gia gắn liền với sự phát triển của toàn nhân loại. Một đất nước không thể phát triển nếu có một nền giáo dục lạc hậu, không thể hội nhập với bạn bè quốc tế nếu không biết hợp tác.
The nao la Hoc hop tac, tim hieu ve hoc hop tac trong day hoc
Ảnh: Minh họa học hợp tác (Teachhub.com)
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng học hợp tác (HHT) góp phần nâng cao kết quả học tập của HS, HS nhận ra được sức mạnh đoàn kết trong giải quyết các vấn đề. Ý tưởng là động viên HS “cùng bơi hoặc cùng chìm” với nhau hơn là đào tạo ra những “kẻ thắng người thua” như trong môi trường học tập có tính ganh đua một cách truyền thống. HHT đích thực luôn khuyến khích sự tương tác giữa HS với HS và thiết lập mối quan hệ sâu sắc giữa các thành viên của nhóm. Khi HHT, HS học được cách lắng nghe ý tưởng của người khác, thảo luận và phản bác, đưa ra và chấp nhận những phê bình có tính xây dựng từ bạn bè và cảm thấy thoải mái khi phạm phải sai sót. HHT với những đặc điểm của nó

  • Thúc đẩy HS học tập tích cực và đạt được những thành tích cao;
  • Làm tăng khả năng ghi nhớ;
  • Đề cao những kết quả đạt được từ kinh nghiệm học tập của HS;
  • Giúp HS phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng lời nói;
  • Phát triển các năng lực xã hội (khả năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin...);
  • Thúc đẩy lòng tự trọng và nâng cao ý thức về bản thân;
  • Đẩy mạnh các mối quan hệ tích cực giữa các HS như: tinh thần đồng đội, sự chia sẻ, sự tận tụy, sự cổ vũ động viên... (2008, [1]).
2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến học hợp tác


- Học cộng tác (Collaborative Learning): là phương pháp dạy và học mà người học cùng làm việc trong một nhóm để nghiên cứu, khảo sát một vấn đề quan trọng hoặc làm một dự án có ý nghĩa.
- Hợp tác (Cooperation): là cùng nhau làm việc để hoàn thành, đạt tới một mục tiêu chung. 
- Học hợp tác (Cooperative Learning): là việc dùng các nhóm nhỏ HS trong dạy học sao cho các thành viên trong nhóm cùng nhau làm việc để đạt được kết quả cao nhất trong học tập. Các nhóm HHT thường có từ 4 đến 6 HS và khả năng của các em trong một nhóm là không đồng đều. Các em HS này cùng nhau làm việc hướng đến một mục đích chung, kết quả đạt được dựa trên cơ sở những nỗ lực đóng góp của tất cả các thành viên.
- Học cá nhân (Individualistic Learning): là phương pháp học tập trong đó các HS làm việc độc lập để đạt được mục tiêu của mình mà không liên quan đến các HS khác.
- Học cạnh tranh (Competitive Learning): là phương pháp học tập trong đó các HS ganh đua nhau để đạt thành tích cao nhất, và chỉ một số trong đó thành công. Các HS luôn cố gắng để chứng tỏ mình nhanh hơn, giỏi hơn các bạn cùng lớp.

3. Lịch sử học hợp tác

Học hợp tác không phải là một ý tưởng mới đối với giáo dục mà thực ra nó đã có từ lâu. Ngay từ thế kỉ I, Quinlition đã cho rằng “người học được lợi từ việc dạy cho người khác”. Nhà triết học La Mã Seneca lại khẳng định “khi bạn dạy, bạn học hai lần” và nhà giáo dục học Johann Amos Comenius thì tin tưởng “người học được lợi cả từ việc dạy lẫn được dạy bởi người khác” (M. Felder, 2008, [3]; 2008, [2]).
Những năm 70 của thế kỉ 18, Joseph Lancaster và Andrew Bell đã sử dụng nhóm HHT rộng rãi ở nước Anh. Năm 1806, trường Lancastrian được thành lập ở New York, phương pháp sử dụng nhóm HHT cũng du nhập vào Mỹ kể từ đó. HHT được áp dụng đầu tiên trong các trường công lập và trở thành một phần quan trọng của nền giáo dục Mỹ. Tâm lý học xã hội nghiên cứu về hợp tác đã tồn tại từ những năm 1920 nhưng đến năm 1970, những ứng dụng đặc biệt của HHT trong lớp học mới bắt đầu được nghiên cứu, và David Johnson, Ellist Aronson, Richart Schmuck, Larry Sherman được nhắc đến như là những nhà tiên phong trong lĩnh vực này vào thời điểm đó. Năm 1979 hội nghị quốc tế đầu tiên về HHT được tổ chức tại Israel, tại buổi họp này IASCE - tổ chức quốc tế nghiên cứu về hợp tác trong giáo dục đã được thành lập. Trong ba thập kỉ qua nhiều phương pháp HHT ra đời và được áp dụng rộng rãi gắn liền với những tên tuổi như Robert Slavin, Shlomo & Yael Sharal, Spenser Kagan, Elizabeth Cohen... (2008, [3]).
Cùng với việc mở rộng sử dụng HHT, chúng ta cũng cần phải biết ảnh hưởng của HHT trong toán học như thế nào, tại sao phải dùng HHT trong giáo dục? Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rõ ràng rằng HHT thúc đẩy thành tích học tập của HS hơn các phương pháp truyền thống, những HS làm việc trong nhóm hợp tác có thành tích toán cao hơn những HS trong các nhóm được dạy cùng một điều kiện bằng phương pháp truyền thống. Ngoài ra các hoạt động HHT cũng thúc đẩy sự phát triển tư duy bậc cao, tư duy phê phán và sáng tạo...
Lý thuyết dạy HHT đã được nước ngoài biết đến từ lâu, và nó được du nhập vào Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nhưng cho đến nay việc áp dụng phương pháp này ở các trường phổ thông vẫn chưa phổ biến. Một số GV cũng đã sử dụng phương pháp học theo nhóm với mục đích đổi mới PPDH. Tuy nhiên, hoạt động trong nhóm có thực sự là hợp tác hay không và kết quả đạt được như thế nào thì chưa có nghiên cứu chính thức nào.

Xem thêm: Làm thế nào để học tốt toán phổ thông - Tập 1 - Đào Văn Trung

4. Các yếu tố cơ bản của học hợp tác

Các thuật ngữ “học nhóm” (Group Learning) và “học hợp tác” (Cooperative Learning) thường được sử dụng như là cùng một nghĩa. Thực sự, nhóm gồm nhiều HS làm việc với nhau không nhất thiết liên quan đến sự hợp tác. Một nhóm HS cùng ngồi một bàn và làm việc riêng nhưng có thể tự do trao đổi với nhau không phải là cấu trúc của một nhóm HHT. Trong môi trường học tập mà HS ngồi cùng nhau theo một nhóm nhỏ và giải các bài toán theo từng cá nhân hoặc để một người làm toàn bộ công việc thì không phải hợp tác. 
Những thành phần thiết yếu đảm bảo cho sự thành công của HHT là: sự phụ thuộc tích cực bên trong, trách nhiệm của mỗi cá nhân, tương tác mặt đối mặt, kĩ năng làm việc nhóm và khả năng thích nghi với mọi người, sự tiến triển nhóm (G. Davis, 2002, [4]; 2008, [5]).

4.1. Sự phụ thuộc tích cực bên trong (Positive Interdependence)

Trong các nhóm HHT mỗi HS có 2 trách nhiệm: đảm bảo việc học của bản thân, chắc chắn rằng tất cả các thành viên trong nhóm cũng học và hiểu các nhiệm vụ được giao. 
- Sự phụ thuộc tích cực bên trong tồn tại khi các HS hiểu rằng họ cùng nhau học tập để đạt được mục tiêu chung, do đó mỗi người chỉ đạt được mục tiêu của mình khi và chỉ khi những thành viên khác trong nhóm cũng đạt được các mục tiêu của họ, thất bại của một người chắc chắn là thất bại của cả nhóm. 
- Sự phụ thuộc tích cực bên trong thúc đẩy một tình huống để HS thấy 
(1) Công việc của các em đem lại lợi ích cho các bạn trong nhóm và ngược lại;
(2) Cùng nhau làm việc trong nhóm nhỏ giúp cho việc học tập đạt kết quả cao nhất thông qua việc chia sẻ tài nguyên, hỗ trợ lẫn nhau, khuyến khích và đề cao thành công chung;
(3) Nỗ lực của mỗi thành viên là tuyệt đối cần thiết, không thể thiếu cho thành công của nhóm;
(4) Khả năng, tài nguyên, trách nhiệm của mỗi người khác nhau nên sự đóng góp của mỗi thành viên vì mục tiêu chung của nhóm là duy nhất.
Một số cấu trúc phụ thuộc trong nhóm học hợp tác
(1) Phụ thuộc về mục tiêu: cả nhóm có mục tiêu học tập chung và mọi thành viên mong muốn đạt được mục tiêu đó.
(2) Phụ thuộc lẫn nhau về tài nguyên: mọi thành viên trong nhóm chỉ có một phần tài liệu, thông tin cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ, vì vậy các HS phải làm việc cùng nhau, hợp tác với nhau trong việc chia sẻ tài nguyên có giá trị.
(3) Phụ thuộc lẫn nhau về nhiệm vụ: toàn bộ nhiệm vụ của nhóm được chia thành các nhiệm vụ nhỏ khác nhau, mỗi thành viên trong nhóm chịu trách nhiệm về một phần trong các nhiệm vụ đó. Như vậy, nhóm chỉ hoàn thành nhiệm vụ khi tất cả các thành viên đều hoàn thành nhiệm vụ của mình.
(4) Phụ thuộc lẫn nhau về các ảnh hưởng bên ngoài: mỗi nhóm cạnh tranh với các nhóm khác trong lớp nên cần phải hợp tác trong học tập.

4.2. Trách nhiệm của mỗi cá nhân (Individual Accountability)

- Các HS phải chia sẻ trách nhiệm trong thành công của nhóm, có trách nhiệm với công việc được giao. Các em phải biết động viên, khuyến khích lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong giải quyết vấn đề. 
- Trách nhiệm của cá nhân tồn tại khi mỗi HS được đánh giá và kết quả đánh giá là cơ sở để xác định ai cần sự giúp đỡ, sự hỗ trợ hơn khi thực hiện nhiệm vụ. Do đó tất cả các thành viên phải đo được: (a) sự tiến bộ của nhóm trong việc đạt mục tiêu, (b) nỗ lực cá nhân của mỗi thành viên.

4.3. Tương tác mặt đối mặt (Face-to-Face Interaction)

Các HS tương tác mặt đối mặt với nhau, dùng lời nói để truyền đạt những kiến thức mình đã biết cho người khác, kiểm tra khả năng hiểu của nhau, cùng thảo luận các vấn đề đã được học. Thông qua tương tác mặt đối mặt, các HS trở nên tận tình với nhau hơn.

4.4. Kĩ năng làm việc nhóm và khả năng thích nghi với mọi người (Interpersonal and Small Group Skills) 

Để làm việc có hiệu quả và đạt mục tiêu của nhóm, các HS phải biết và tin tưởng nhau, phải được dạy các kĩ năng làm việc nhóm như: đưa ra ý kiến phản ánh có tính xây dựng, thu hút sự chú ý của các thành viên, truyền đạt thông tin, giải quyết các xung đột nảy sinh...

4.5. Sự tiến triển nhóm (Group Processsing) 

Yếu tố này xuất hiện khi các thành viên thảo luận tìm phương pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu, giữ cho nhóm luôn làm việc tích cực. Nếu không có sự tiến triển nhóm, những nhóm hợp tác thường chỉ ra những nhóm HS ngồi với nhau cùng làm một nhiệm vụ.
Mục đích của sự tiến triển nhóm là làm tăng hiệu quả hợp tác giữa các thành viên, vì vậy các HS phải 
- Tìm kiếm cách thức tốt nhất để đạt mục tiêu và duy trì mối quan hệ giữa các thành viên;
- Tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên học kỹ năng hợp tác;
- Đảm bảo mỗi thành viên đều nhận được sự phản hồi về mức độ tham gia hoạt động nhóm của mình (Ví dụ: tham gia nhiệt tình, ít tham gia, không hề tham gia...);
- Chỉ rõ những hoạt động có ích, không có ích cho nhóm, từ đó quyết định cách thức hành động thích hợp.


Tham khảo:
1. The Global Development Research Center (2008), “44 Benefits of Collaborative Learning”, http://www.gdrc.org/kmgmt/c-learn/44.html
2. Georgia Educational Technology Training Center (2008), “Cooperative Learning”, http://edtech.kennesaw.edu/intech/cooperativelearning.htm#why
3. Richard M. Felder (2008), “Cooperative learning in technical courses: procedures, pitfalls and payoffs”, http://www4.ncsu.edu/unity/lockers/users/f/felder/public/Papers/Coopreport.html#Introduction
4. Barbara Gross Davis (2002), “Collaborative Learning:
Group Work and Study Teams”,  http://teaching.berkeley.edu/bgd/collaborative.html
5. Learnhub (2008), “5 Basic Elements of Cooperative Learning”, http://cooperativelearning.learnhub.com/lesson/page/227-5-basic-elements-of-cooperative-learning
Thế nào là Học hợp tác? Lịch sử vấn đề và các yếu tố cơ bản Reviewed by Tân Phúc on 11:40:00 Rating: 5 Học hợp tác đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục trên thế giới và được áp dụng thành công ở các nướ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.