728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Khái niệm về Dạy học tương tác và cơ sở khoa học của DHTT

Mời các bạn tìm hiểu khái niệm về dạy học tương tác và cơ sở khoa học của dạy học tương tác để có nền tảng lý luận khoa học giáo dục, từ đó có thể nâng cao được hiệu quả giáo dục  của mình. 
1. Dạy học tương tác
1.1. Dạy học và quá trình dạy học
        Theo từ điển Tiếng Việt “dạy học là dạy văn hóa theo những chương trình nhất định”[1, tr. 313].
        Theo nghĩa thông thường, người ta hiểu dạy học là truyền thụ một điều gì đó cho người khác, là sự truyền kiến thức hoặc lý thuyết, hoặc thực hành. Có người còn cho rằng: Dạy học là truyền một thông điệp. Định nghĩa này khó chấp nhận vì nó đơn giản hóa hành vi dạy học thành HĐ truyền thông tin. Định nghĩa của Ga-nhê có lý hơn: “Dạy học là tổ chức các tình huống học tập”. [2]
        Chúng tôi tán thành với tác giả Đỗ Ngọc Đạt khi ông viết: “Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động (HĐ) chung của người dạy và người học, hai HĐ này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất là quá trình dạy học” [3, tr. 50].
        Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy học của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.[4, tr. 89]
        Quá trình dạy học được xác định bởi 4 dấu hiệu sau:
  • Dạy học là một dạng HĐ đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành nhân cách của người học.
  • HĐ dạy và HĐ học đều phải được tiến hành trên bản thể của quá trình dạy học là nội dung dạy học.
  • Kết quả của quá trình dạy học là làm biến đổi ở người học những đặc tính nào đó đã được xác định từ trước và tương ứng với nội dung dạy học.
  • Quá trình dạy học phải là một quá trình học tập có kiểm soát và điều khiển.
        Cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm các yếu tố sau: Mục đích, nội dung dạy học, các HĐ dạy và học, kết quả học tập.
1.2. Tương tác
        Theo từ điển Tiếng Việt [1], tương tác là sự tác động qua lại. Mặt khác, từ “tương tác” trong Tiếng Anh là “interaction”, đây là từ ghép, được ghép bởi từ “inter” và “action”. Trong đó, “inter” là sự liên kết, nối liền với nhau, còn “action” là sự tiến hành làm điều gì, HĐ hay hành động [5, tr. 17]. “Interaction” là sự tiếp xúc với nhau, tác động qua lại [5,tr. 548] hay còn là hành động tương hỗ, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các đối tượng, hoặc là sự trao đổi giữa người này với người khác.
        Trong tác phẩm “Dạy học và PPDH trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ đã quan niệm “HĐ dạy và HĐ học là sự tương tác lẫn nhau giữa hai mặt của một HĐ: HĐ dạy học.”[4, tr. 131] Trong đó tác giả còn nhấn mạnh đến sự tồn tại và phát triển của mặt này quy định sự tồn tại và phát triển của mặt kia.
        Trong quá trình dạy học, có thể hiểu tương tác là sự tác động qua lại trực tiếp giữa người học với người dạy và giữa người học với nhau trong môi trường giáo dục nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập, các mục tiêu dạy học đã xác định.
1.3. Quan niệm về dạy học tương tác
        Có nhiều quan niệm về Dạy học hợp tác. Trong tác phẩm “Dạy học và Phương pháp dạy học (PPDH) trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ đã trình bày khái niệm về DHTT phát triển: “Phương pháp DHTT phát triển là dạy học được thực hiện qua sự tác động hai chiều giữa GV và học viên, trong đó mọi chỉ dẫn của GV hướng đến sự phát triển của học viên, nhờ tác động phù hợp với trình độ phát triển gần của các em” [4, tr. 297].
        Trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp Sư phạm tương tác”[6], hai tác giả Jean Marc Denomme’ và Madeleine Roy đã nói tới một trường phái sư phạm học tương tác cùng nền tảng lí luận của nó. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã nhấn mạnh: “HĐ dạy học – giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố: Người dạy – Người học và môi trường”. Sự tương tác đó được thể hiện qua sơ đồ:


Hình. Sơ đồ cấu trúc HĐ dạy - học:
bộ ba Người học - Người dạy - Môi trường trong quan điểm SPTT

        Trong quan điểm SPTT, Jean Marc Denomme’ và Madeleine Roy đã làm rõ vai trò của người dạy, người học và yếu tố môi trường cùng các mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng trong HĐ dạy học. Trong kiểu dạy học này, người dạy có chức năng thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học. Còn người học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân.
        Trong Dạy học hợp tác, người dạy và người học cùng tham gia làm gia tăng giá trị lợi ích của nhau. GV quan tâm nhiều hơn tới sự tham gia, tương tác và hành động của HS. GV thường đưa ra các thông tin, chỉ dẫn, lời gợi nhắc, sự khuyến khích phù hợp với trình độ phát triển của HS. Mọi sự trợ giúp của GV phải tác động vào vùng phát triển gần trong lộ trình phát triển của HS. Đây cũng là đặc trưng cơ bản giúp đạt được kết quả cao trong quá trình dạy học.
        Dạy học hợp tác trong môn Toán là HĐ dạy học, ở đó người dạy sử dụng các KTDH, phương tiện dạy học, đặc biệt là CNTT và truyền thông,... tạo ra môi trường tương tác, với các tình huống dạy học có dụng ý giúp người học chiếm lĩnh tri thức toán học, rèn luyện kỹ năng vận dụng toán học, phát triển tư duy qua các tác động qua lại, trao đổi, hợp tác giữa người học, người dạy và môi trường.
2. Cơ sở khoa học của dạy học tương tác
2.1. Cơ sở triết học
        Theo nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan không tồn tại độc lập, riêng rẽ, mà giữa chúng có mối liên hệ qua lại, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau phát triển. Quá trình dạy học cũng được xem như một hiện tượng xã hội đặc thù, trong nó chứa đựng rất nhiều thành tố: người học, người dạy, nội dung dạy học, các thiết bị, phương tiện dạy học, không gian,...và những thành tố này không tồn tại độc lập, mà giữa chúng có mối liên hệ, tác động qua lại, chế ước lẫn nhau, tạo động lực cho từng thành tố cùng vận động và phát triển. Trong đó, quan trọng nhất là sự phát triển của người học.
        Trong DHTT, các nhân tố người học, người dạy và môi trường không tồn tại một cách độc lập, mà luôn có có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của người học trong HĐ học và người dạy trong HĐ dạy.
2.2. Cơ sở giáo dục học
        Trong DHTT, HĐ dạy và HĐ học mang tính chất hai chiều, tất yếu phải có sự tác động qua lại giữa người dạy và người học, sự tác động này diễn ra trong những điều kiện xác định, đảm bảo sự thống nhất giữa HĐ điều khiển của thầy và HĐ học của trò. DHTT phù hợp với nguyên tắc dạy học là: “Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thày và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của trò”.
 2.3. Cơ sở tâm lý học
        Cơ sở tâm lý của DHTT bắt nguồn từ những luận điểm cơ bản của thuyết lịch sử - văn hóa về sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao của L.X.Vưgotxky [4, tr. 65]. Ông cho rằng, học tập tức là tương tác với môi trường, dạy học tức là can thiệp vào kinh nghiệm thường trực ở người học thuộc vùng phát triển gần nhất. Vùng phát triển gần nhất là khái niệm chỉ khu vực kinh nghiệm cá nhân nằm giữa trình độ phát triển tiềm tàng (ở dạng tiềm năng) được đặc trưng bằng năng lực GQVĐ có sự hỗ trợ từ bên ngoài (ở quá khứ), và trình độ phát triển hiện tại (thành tựu mới đạt được) có đặc trưng là năng lực GQVĐ độc lập. Theo ông, vùng phát triển gần nhất hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ hiện tại và xuất hiện vùng phát triển gần nhất. Vậy trong DHTT, người dạy cần tác động vào vùng phát triển gần nhất của HS thì việc dạy học mới đạt hiệu quả.
        Tóm lại, Dạy học hợp tác (DHTT) có cơ sở khoa học vững chắc dựa trên sự phát triển của nhiều ngành khoa học và được ứng dụng trong giáo dục. Sự phân tích về cơ sở khoa học của DHTT giúp người dạy có thêm cơ sở và định hướng trong việc lựa chọn Phương pháp dạy học (PPDH) phù hợp để việc dạy học đạt hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Phê (1996), Từ điển tiếngViệt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
2. Trần Hồng Cẩm, Cao Văn Đán, Lê Hải Yến (2000), Giải thích thuật ngữ Tâm lí -Giáo dục học, Dự án Việt - Bỉ, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội.
3. Đỗ Ngọc Đạt (1977), Tiếp cận hiện đại HĐ dạy học, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
4.  Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và PPDH trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
5. Thanh Hương, Tuấn sĩ, Minh Dũng, Minh Nhựt (2003), Từ điển Anh – Anh – Việt, NXB Thống kê, thành phố Hồ Chí Minh.
6. Jean-Marc Denomme' & Madeleine Roy (2005), Tiến tới một phương pháp SPTT (bộ ba: Người học - Người dạy - Môi trường), NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
Khái niệm về Dạy học tương tác và cơ sở khoa học của DHTT Reviewed by Tân Phúc on 14:57:00 Rating: 5 Mời các bạn tìm hiểu khái niệm về dạy học tương tác và cơ sở khoa học của dạy học tương tác để có nền tảng lý luận khoa học giáo dục, từ đó...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.