728x90 AdSpace

Theo dõi và chia sẻ các bài viết mới
Tin nhanh

Những kết quả nghiên cứu về dạy học tương tác ở Việt Nam

Mời bạn tìm hiểu những kết quả nghiên cứu về dạy học tương tác ở Việt Nam, hy vọng chúng sẽ giúp ích cho công việc nghiên cứu và giảng dạy của các bạn.
        Phương pháp Sư phạm tương tác (SPTT) được phổ biến ở Việt Nam vào năm 1992 tại Huế và 1995 tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong hội thảo Didactic của những nước nói tiếng Pháp. Mặc dù vậy, thuật ngữ sư phạm học tương tác là một thuật ngữ mới ở Việt Nam.

Những bài về Didatic bạn nên đọc:
        Trong thời gian gần đây, các nhà giáo Việt Nam đã trao đổi nhiều về tư tưởng sư phạm mới này. Trong cuốn sách “Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông” [1], tác giả Bùi Văn Nghị đã trình bày một cách sơ lược việc vận dụng thuyết tương tác trong dạy học một vài nội dung của chương trình Toán ở phổ thông. Trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT trong các trường (khoa) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay” [2], tác giả Nguyễn Thành Vinh cũng đã trình bày một số vấn đề cơ bản của phương pháp SPTT. Trong cuốn sách “Dạy học và PPDH trong nhà trường” [3], tác giả Phan Trọng Ngọ đề cập đến sự tương tác giữa người dạy, người học và đối tượng dạy học. Tác giả đã đưa ra một nhóm phương pháp tổ chức tương tác hành động học bao gồm: Các phương pháp kịch, các PPDH bằng trò chơi, và DHTT theo lí thuyết lịch sử văn hoá về sự phát triển các chức năng tâm lí cấp cao của L.X. Vưgotxky. Tác giả khẳng định rằng trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học và đối tượng dạy học. Trong cuốn sách “PPDH truyền thống và đổi mới” [4], tác giả Thái Duy Tuyên cũng trình bày những khái niệm của phương pháp sư phạm học tương tác, các dạng bài học trong sư phạm học tương tác và các dạng tương tác trong dạy học.
Những kết quả nghiên cứu về dạy học tương tác ở Việt Nam
Dạy học tương tác được quan tâm ở Việt Nam. Nguồn ảnh: wkms.org
        Về vấn đề môi trường dạy học theo phương pháp SPTT, tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (khoa Tâm lý Giáo dục học trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh) đã có nhiều bài viết trao đổi sâu về vấn đề này[5]. Tác giả đã khẳng định các yếu tố cấu thành HĐ dạy học gồm: Kiến thức (khái niệm khoa học hay nội dung); Học (người học – trò); Dạy (người dạy – thầy); Môi trường (điều kiện dạy học cụ thể). Mỗi yếu tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học đảm nhận chức năng riêng biệt. Các yếu tố không tồn tại rời rạc bên cạnh nhau mà chúng có mối quan hệ với nhau và luôn tác động qua lại lẫn nhau. Môi trường trong sư phạm học tương tác không hiểu như là các đòi hỏi của xã hội (mô hình nhân cách) đặt ra cho nhà trường, trong đó có quá trình dạy học; cũng không hiểu là các điều kiện vật chất, tinh thần; các yếu tố bên trong và bên ngoài người dạy và người học ảnh hưởng đến HĐ dạy và học, mặc dù sư phạm học tương tác có tính đến. Môi trường bàn đến ở đây được hiểu là các tình huống dạy học do người dạy tạo ra cho người học HĐ, cải biến và thích nghi [5]. Trong cuốn sách xuất bản năm 2011 “ Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường SPTT” [6], tác giả Phó Đức Hòa đã mang đến cho người đọc một cách nhìn tổng quan về mô hình HĐ SPTT và việc ứng dụng phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường này ở các loại hình nhà trường khác nhau. Tác giả cuốn sách đã đưa ra cách tiếp cận mới về SPTT cũng như các PPDH tích cực đã được sử dụng trong môi trường này. Tác giả cuốn sách đã khẳng định các PPDH tích cực chỉ được thực hiện có hiệu quả trong một môi trường giàu tính công nghệ, môi trường dạy học đa phương tiện. Người dạy và người học sử dụng công nghệ dạy học mới nhưng không lạm dụng CNTT đang là một vấn đề thời sự, đã và đang được đặt ra trong cuốn sách này với các biện luận và phân tích cụ thể. Điểm sáng của cuốn sách này là việc tác giả đã chỉ ra được các PPDH tích cực áp dụng trong môi trường SPTT và CNTT cùng các phần mềm hữu ích được sử dụng trong dạy học. Tuy nhiên, cuốn sách chưa đề cập tới việc áp dụng quan điểm SPTT vào dạy học một môn học cụ thể, đặc biệt trong môn Toán.
        Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ “Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo GV tiểu học trình độ đại học” [7] được bảo vệ năm 2013, tác giả Phạm Quang Tiệp đã xây dựng khung lý thuyết về dạy học dựa vào tương tác. Tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo GV tiểu học trình độ đại học, đồng thời thiết kế được năm mô hình dạy học dựa vào tương tác và một số KTDH, nhằm triển khai hiệu quả những mô hình dạy học này trong thực tiễn đào tạo GV trình độ đại học.
        Ngoài ra, còn rất nhiều luận án và luận văn thạc sỹ bàn về DHTT như luận văn: “Vận dụng quan điểm SPTT vào dạy học nội dung Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng, Hình học 11 nâng cao trường THPT” [8] của Vũ Văn Công; Luận văn: "Vận dụng SPTT trong dạy học môn Toán ở lớp 3" [9] của Nguyễn Thế Sang; hay “Tổ chức dạy học theo nhóm nhằm tăng cường tương tác sư phạm trong dạy học lý luận dạy học môn Toán (phần 2) ở trường Đại học Sư Phạm”[10] của tác giả Bùi Thị Hạnh Lâm,...Trên các tạp chí giáo dục và nghiên cứu khoa học gần đây cũng đăng nhiều bài trao đổi về bản chất và sự hình thành của phương pháp SPTT, cũng như cách tiếp cận các PPDH khác theo mô hình tương tác, như các bài báo của tác giả Nguyễn Phương Hồng về "Tiếp cận kiến tạo trong dạy học khoa học theo mô hình tương tác",[11 , trang 13,14]; "Phương pháp SPTT: bản chất và hướng ứng dụng", của Nguyễn Đình Chắt [12 , trang 19, 20, 23]; hay bài viết về "Dạy - học tương tác theo hướng người học tự hình thành kiến thức mới" [13] của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo cũng đề cập tới yếu tố môi trường trong DHTT. Trong bài báo về " Phương pháp SPTT và hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ" của tác giả Cao Xuân Liễu (Khoa Sư phạm – Trường đại học Đà Lạt) [14, trang 21-24],...Điều đó là minh chứng về việc quan tâm của các nhà giáo dục Việt Nam đến quan điểm dạy học mới này.
        Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, xu hướng ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo môi trường học tập mang tính tương tác là một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục cũng như các bậc phụ huynh. Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết kế bởi người dạy. Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duy sáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo. Tuy nhiên, việc vận dụng quan điểm SPTT vào dạy học các nội dung cụ thể của các môn học trong nhà trường còn ít được nghiên cứu.
        Ở Việt Nam hiện nay, đã và đang áp dụng quan điểm này tuy chưa được rộng rãi ở một số trường phổ thông. Việc áp dụng quan điểm này được thể hiện rõ nhất đó là thi giải toán qua mạng cho HS Tiểu học thông qua việc sử dụng học liệu Toán tương tác của tác giả Hoàng Khánh Hòa đã được giới thiệu trên mạng Internet [15]. Học liệu Toán tương tác đã thu hút được sự tham gia đông đảo của các em HS Tiểu học và phổ thông cơ sở, cũng như sự quan tâm của các bậc phụ huynh.
Toán tương tác là học liệu Việt ngữ đầu tiên và duy nhất cho phép HS học toán qua hình thức thực hành tương tác, với số lượng bài học đa dạng theo chủ đề và cấp độ lớp học. Học liệu Toán được thiết kế để phù hợp với chương trình trong chuẩn SGK Việt Nam, đặt biệt phù hợp cho HS theo học các chương trình theo chuẩn Anh-Mỹ-Singapore-Úc ở Việt Nam hoặc tiếp tục theo học chương trình phổ thông tại các quốc gia này. Học liệu thực hành Toán tương tác được đánh giá là hệ thống, đủ tốt, nhiều người đã học: cơ hội để học tập theo mức tiến bộ của bản thân và trải nghiệm tiếp thu kiến thức được cá nhân hóa.
        Tuy nhiên, học liệu thực hành Toán tương tác chủ yếu dành cho đối tượng HS từ mẫu giáo đến lớp 8, với các lớp tiếp theo còn đang từng bước hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu học tập.
        Hiện nay, hệ thống trường Quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương (APC) ở quận 1, thành phố Hồ Chí Minh triển khai việc ứng dụng tiện ích CNTT vào việc giảng dạy và quản lý, nhằm phục vụ cho mục tiêu đào tạo HS thành những công dân toàn cầu sau này. Nhằm tăng cường tính sinh động và khả năng tự chủ của HS, tất cả GV tại APC đều dùng giáo án điện tử kết hợp sử dụng thiết bị hỗ trợ là Bảng tương tác điện tử thông minh theo công nghệ Hoa Kỳ - Mimio trong giảng dạy. Với sự trợ giúp của thiết bị công nghệ cao, GV dễ dàng giúp HS “tương tác” trực tiếp vào bài giảng của mình một cách trực quan và đa dạng, tạo cảm hứng cho GV lẫn HS. Từ đó, giúp HS tiếp thu bài giảng tốt hơn, phát huy khả năng suy luận và trí tưởng tượng của các em.
        Có thể nói, việc nghiên cứu về DHTT ở trong và ngoài nước đã đạt được nhiều thành tựu về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về DHTT trong môn Toán, nhất là DHTT trong một chủ đề cụ thể như PT và BPT.
        Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về DHTT, hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đang từng bước vận dụng những lý thuyết về tương tác vào dạy học các môn học cụ thể. Có thể tổng hợp theo ba đường hướng như sau:
        Thứ nhất, trường phái “SPTT” (Interactive pedagogy) của hai tác giả J.M. Denommé và M.Roy, cùng với việc khai thác mối quan hệ qua lại của ba tác nhân người học – người dạy – môi trường dựa trên cơ sở của sinh lý thần kinh. Trường phái này chủ yếu khai thác và đề cao vai trò ảnh hưởng của môi trường và hệ thống thần kinh (bộ máy học) trong quá trình dạy học. SPTT có mối quan hệ mật thiết với lý thuyết tình huống trong Didactic.
        Thứ hai, phần đông hiện nay đi theo hướng hiểu học tương tác theo quan niệm hiện đại (Interactive learning). Theo quan niệm này, học tương tác được hiểu là một tiếp cận sư phạm mà ở đó khai thác sự kết hợp chủ yếu của công nghệ dạy học và kỹ thuật số trong dạy học.
        Trường phái thứ ba mang tính tổng hòa hơn, đó là tương tác trong lớp học (Interactive classroom). Theo trường phái này, người học giữ vai trò chủ đạo trong lớp học, người dạy đóng vai trò như người hướng dẫn và tổ chức. Trong trường phái này chủ yếu khai thác sự tác động qua lại, tương tác giữa người học – người học, người học với người dạy và tương tác giữa người học - người dạy - môi trường dạy học trong đó có SGK, tài liệu học tập, phương tiện dạy học,…chủ yếu là máy tính, các trò chơi, và tình huống DHTT. Trong luận án này, chúng tôi đi theo trường phái thứ ba.

Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Văn Nghị (2009), Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
2. Nguyễn Thành Vinh (2006), Tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT trong các trường (khoa) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội.
3. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và PPDH trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
4. Thái Duy Tuyên (2007), PPDH truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục.
5. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006), Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học sư phạm theo quan điểm SPTT, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
6. Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn (2011), Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường SPTT. NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
7. Phạm Quang Tiệp (2013), Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo GV Tiểu học trình độ đại học, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
8. Vũ văn Công (2011), Vận dung quan điểm SPTT vào dạy học nội dung Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng hình học 11 nâng cao trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
9. Nguyễn Thế Sang (2005), “Vận dụng SPTT trong dạy học môn Toán ở lớp 3”, Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
10. Bùi Thị Hạnh Lâm (2005), Tổ chức dạy học theo nhóm nhằm tăng cường tương tác sư phạm trong dạy học lý luận dạy học môn Toán (phần 2) ở trường Đại học Sư phạm, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
11. Nguyễn Phương Hồng (1997), Tiếp cận kiến tạo trong dạy học khoa học theo mô hình tương tác, Nghiên cứu Giáo dục (số 10, tr. 13, 14).
12. Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Chung, Nguyễn Thái Sơn (2004), Phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội.
13. Đỗ Thị Phương Thảo (2011), DHTT theo hướng người học tự hình thành kiến thức mới, Tạp chí Giáo dục (số 271, kì 1, tháng 10).
14. Cao Xuân Liễu (2010), Phương pháp SPTT và hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, Tạp chí Khoa học, trường Đại học Đà Lạt, (số 10, tr. 24).
Những kết quả nghiên cứu về dạy học tương tác ở Việt Nam Reviewed by Tân Phúc on 14:26:00 Rating: 5 Mời bạn tìm hiểu những kết quả nghiên cứu về dạy học tương tác ở Việt Nam, hy vọng chúng sẽ giúp ích cho công việc nghiên cứu và giảng dạy ...

Không có nhận xét nào:

Xin vui lòng để lại vài dòng nhận xét hoặc đánh giá có nội dung. Sự quan tâm, chia sẻ của quý độc giả sẽ tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho cộng đồng bạn đọc cả nước.